Đơn rút tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo
Theo quy định mới, đơn rút tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ và tên, địa chỉ của người tố cáo rút tố cáo, cách thức liên hệ, nội dung tố cáo được rút.
Chính phủ ban hành Nghị định số 156/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo.
Nghị định số 156/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 4 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP quy định về rút tố cáo.
Theo quy định mới, đơn rút tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ và tên, địa chỉ của người tố cáo rút tố cáo, cách thức liên hệ, nội dung tố cáo được rút, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tố cáo rút tố cáo.
Biên bản ghi nhận ý kiến rút tố cáo phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tố cáo rút tố cáo.
Trường hợp nhiều người cùng tố cáo mà có một hoặc một số hoặc tất cả người tố cáo rút tố cáo thì việc rút tố cáo thực hiện theo quy định trên.
Trường hợp người tố cáo rút tố cáo thì người giải quyết tố cáo vẫn phải tiếp tục giải quyết tố cáo nếu qua xem xét hồ sơ, tài liệu, thông tin đã thu thập được nhận thấy vụ việc có một trong các căn cứ sau:
- Hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
- Có căn cứ xác định việc rút tố cáo được thực hiện do người tố cáo bị đe dọa, ép buộc, mua chuộc;
- Có căn cứ xác định người tố cáo đã lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo.
Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung Điều 21 quy định nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật về tố cáo như sau:
Người giải quyết tố cáo, người xác minh nội dung tố cáo, người tiếp nhận tố cáo và người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật về tố cáo thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật và quy định ở Điều 22, Điều 23 Nghị định này hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung Điều 23 về xử lý kỷ luật đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức như sau:
1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với người tố cáo khi có một trong các hành vi sau:
a) Biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo;
b) Biết vụ việc đã được cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng vẫn tố cáo mà không có bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo;
c) Lôi kéo, kích động, dụ dỗ người khác tố cáo sai sự thật.
2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với người tố cáo khi có một trong các hành vi sau:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách theo quy định ở mục 1 mà tái phạm;
b) Cưỡng ép, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật;
c) Sử dụng họ tên của người khác để tố cáo trừ trường hợp quy định tại điểm b mục 3 ở dưới.
3. Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với người tố cáo giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý khi có một trong các hành vi sau:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo theo quy định tại mục 2 ở trên mà tái phạm;
b) Sử dụng họ tên của người khác để tố cáo làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc gây mất đoàn kết nội bộ.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1.7.2026.
Đọc bản gốc tại đây