Người lao động làm thủ tục nhận trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội. Ảnh: Hương Nha
Người lao động làm thủ tục nhận trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội. Ảnh: Hương Nha

Trợ cấp thất nghiệp giữ mức hưởng 60%, người lao động sớm quay lại thị trường lao động

LƯƠNG HẠNH (báo lao động) 16/05/2026 17:30 (GMT+7)

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp 60% nhằm hỗ trợ người lao động mất việc nhưng vẫn đảm bảo động lực sớm quay lại thị trường lao động.

Đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng

Luật Việc làm năm 2025 tiếp tục kế thừa nguyên tắc cơ bản của Luật Việc làm năm 2013 khi quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của 6 tháng có đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) trước khi thất nghiệp.

Theo ông Trần Tuấn Tú - Trưởng phòng BHTN, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), quy định mới đã được điều chỉnh theo hướng chặt chẽ hơn nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với thực tiễn.

Ông Tú cho biết, theo quy định trước đây của Luật Việc làm năm 2013, mức hưởng TCTN được tính trên cơ sở bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

Tuy nhiên, khái niệm “liền kề” được thiết kế khá linh hoạt nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong các trường hợp có gián đoạn hợp lý trong quá trình tham gia BHTN.

Theo ông Tú, với các loại bảo hiểm ngắn hạn, việc đóng thường phải liên tục đến thời điểm xảy ra rủi ro. Tuy nhiên, BHTN ngoài tính chất ngắn hạn còn có yếu tố dài hạn, bởi toàn bộ thời gian đã đóng nhưng chưa hưởng vẫn được bảo lưu, kể cả khi người lao động có gián đoạn trong quá trình làm việc.

“Chính vì vậy, nếu chỉ tính ‘6 tháng liền kề’ theo nghĩa cứng, không có gián đoạn thì sẽ không phù hợp với thực tiễn” - ông Tú nói.

Do đó, Luật Việc làm năm 2025 điều chỉnh theo hướng xác định 6 tháng cuối cùng có đóng BHTN trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động, không phụ thuộc việc quá trình tham gia có bị gián đoạn hay không. Cách tiếp cận này vừa đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng, vừa phù hợp với thực tế quá trình làm việc của người lao động.

Duy trì động lực quay trở lại làm việc của người lao động

Liên quan đến mức hưởng 60%, ông Tú cho biết đây là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định nhằm giúp người lao động duy trì cuộc sống khi mất việc và chưa có thu nhập.

Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và thông lệ quốc tế, mức TCTN không nên thấp hơn 50% tiền lương. Việt Nam hiện quy định mức hưởng 60%, cao hơn mức khuyến nghị này.

Tuy nhiên, nhiều người lao động vẫn cho rằng mức hưởng còn thấp do tiền lương làm căn cứ đóng BHTN hiện chủ yếu dựa trên tiền lương theo hợp đồng lao động, chưa phản ánh đầy đủ thu nhập thực tế.

Ông Tú cho biết trong doanh nghiệp hiện nay, ngoài tiền lương theo hợp đồng còn có nhiều khoản thu nhập khác nhưng chưa được tính vào nền tiền lương đóng bảo hiểm. Nguyên nhân là nếu tính đầy đủ, người sử dụng lao động sẽ phải tăng nghĩa vụ đóng nên thường có xu hướng giữ mức đóng ở mức tối thiểu.

Trần Tuấn Tú - Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ). Ảnh: Nhật Dương
Trần Tuấn Tú - Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ). Ảnh: Nhật Dương

Điều này dẫn đến thực tế thu nhập của người lao động có thể cao hơn đáng kể so với mức lương làm căn cứ đóng BHTN. Ví dụ, một lao động có mức đóng bảo hiểm khoảng 6 triệu đồng/tháng nhưng thu nhập thực tế có thể đạt khoảng 10 triệu đồng/tháng, đặc biệt trong các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày. Khi đó, mức TCTN tính bằng 60% mức lương đóng bảo hiểm sẽ thấp hơn nhiều so với thu nhập thực tế.

Ông Tú cũng cho biết việc giữ mức hưởng ở ngưỡng 60% nhằm đảm bảo cân bằng giữa hỗ trợ người lao động và duy trì động lực quay trở lại làm việc.

“Nếu mức hưởng quá cao, chẳng hạn 70% hoặc 80%, sẽ làm giảm động lực quay trở lại làm việc của người lao động” - ông Tú nói và cho biết mức 60% được tính toán trên cơ sở cân đối quỹ, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời vẫn đảm bảo hỗ trợ cần thiết.

Theo ông Tú, bản chất của TCTN là sự chia sẻ giữa những người tham gia quỹ. Người hưởng không chỉ nhận từ phần đóng của mình mà còn từ sự đóng góp của nhiều người khác, thể hiện tính nhân văn của chính sách.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục