Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa XIII) tại Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh toàn diện; tập trung đại diện, chăm lo, bảo vệ đoàn viên và người lao động; phát huy vai trò tiên phong, tinh thần đổi mới, sáng tạo, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Các ý kiến góp ý xin gửi về Tổng Liên đoàn (qua Ban Công tác Công đoàn), địa chỉ: số 10 Chu Văn An, phường Ba Đình, TP Hà Nội; email: tonghoptld@gmail.com. Thời gian nhận ý kiến góp ý: từ nay đến hết ngày 25 tháng 5 năm 2026.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV diễn ra vào thời điểm đoàn viên, người lao động cả nước đang cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; cả nước vừa tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội có nhiệm vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam, giai đoạn 2023 - 2026; xác định mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2026 – 2031; kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa XIII), bầu Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa XIV); đánh giá việc thi hành và thông qua Điều lệ Công đoàn Việt Nam (sửa đổi). Đại hội được tiến hành với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới - Phát triển”.
I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM LẦN THỨ XIII, GIAI ĐOẠN 2023 – 2026
1. Bối cảnh thế giới, trong nước và tình hình công nhân, viên chức, lao động
Những năm qua, bối cảnh thế giới và trong nước diễn biến nhanh, phức tạp, xuất hiện nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, vượt ngoài dự báo. Tình hình kinh tế - xã hội trong nước cơ bản đã phục hồi sau đại dịch nhưng vẫn đối mặt với nhiều khó khăn do tác động của tình hình thế giới. Xung đột vũ trang, sự điều chỉnh chính sách thuế của các nước lớn, chiến tranh thương mại làm suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo có bước phát triển đột phá chưa từng có, cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt.
Đảng, Nhà nước đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, ban hành nhiều quyết sách mang tầm chiến lược, tạo được những dấu ấn mang tính lịch sử: cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; triển khai phương án tăng trưởng kinh tế cao, tạo nền tảng tăng trưởng hai con số cho giai đoạn 2026-2031…
Đội ngũ công nhân, viên chức, lao động tiếp tục có bước phát triển nhanh cả về số lượng[i] và chất lượng[ii], là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Giác ngộ chính trị, ý thức pháp luật, lòng tin của người lao động đối với Đảng, Nhà nước được củng cố. Xu hướng trí thức hóa công nhân giúp hình thành một thế hệ công nhân trẻ năng động, sáng tạo, có khả năng ứng dụng công nghệ mới, làm chủ dây chuyền sản xuất hiện đại, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. Thu nhập và đời sống của phần lớn người lao động được cải thiện, quan hệ lao động ngày càng hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Tuy nhiên, nhận thức, tác phong và kỹ năng nghề nghiệp của một bộ phận công nhân còn thấp, năng lực tiếp cận và ứng dụng khoa học công nghệ chưa cao, năng suất lao động chậm cải thiện. Hạ tầng xã hội phục vụ công nhân còn thiếu, lạc hậu và phân tán. Tội phạm, tệ nạn xã hội, các hoạt động lôi kéo, kích động công nhân diễn biến phức tạp. Tình trạng việc làm thiếu bền vững, thu nhập thấp, vi phạm pháp luật về lao động, nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và sắp xếp tổ chức bộ máy công đoàn… tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của đoàn viên, người lao động và cán bộ công đoàn. Trong bối cảnh đó, các cấp công đoàn đã nỗ lực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam đề ra, đạt nhiều kết quả quan trọng.
2. Kết quả đạt được
2.1. Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động, chủ động tham gia phát triển việc làm bền vững và bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ
Các cấp công đoàn chủ động đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến người lao động và hoạt động công đoàn[iii]. Hoạt động thông tin, tuyên truyền, tiếp xúc, đối thoại trong xây dựng chính sách, pháp luật được quan tâm, phát huy hiệu quả[iv]; đã chủ động tham gia với chính quyền, chuyên môn cùng cấp trong xây dựng cơ chế, chính sách, quy định, nội quy, quy chế thuộc ngành, địa phương, đơn vị và doanh nghiệp, khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn trong đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, người lao động.
Triển khai phong phú các giải pháp, biện pháp thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của đoàn viên, người lao động, tập trung vào xây dựng hệ thống quy chế, quy định; tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại nơi làm việc, thương lượng tập thể nhằm góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ. Số lượng, tỷ lệ bao phủ và chất lượng thỏa ước lao động tập thể tiếp tục được nâng lên; Ký mới 6.038 thỏa ước lao động tập thể, tỉ lệ thỏa ước lao động đạt loại B trở lên chiếm hơn 50%; Có 22 thỏa ước lao động có nhiều doanh nghiệp tham gia, 03 bản thỏa ước lao động tập thể ngành.
Mô hình Trung tâm tư vấn và hỗ trợ người lao động được hình thành, tiếp tục nghiên cứu nhân rộng. Hoạt động tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho đoàn viên, người lao động, nhất là trong tham gia tố tụng giải quyết các vụ án lao động, vụ việc lao động tại tòa án được chú trọng; Tư vấn pháp luật gần 30 nghìn lượt đoàn viên, người lao động; Hỗ trợ, đại diện hơn 500 vụ tranh chấp lao động cá nhân. Công đoàn tích cực nắm bắt, tham gia giải quyết kịp thời, hiệu quả tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể.
Hoạt động chăm lo, đảm bảo phúc lợi, duy trì việc làm, nâng cao đời sống của đoàn viên, người lao động được triển khai đồng bộ, toàn diện. Nghị quyết của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về tập trung nguồn lực chăm lo phúc lợi cho đoàn viên, người lao động trong tình hình mới được ban hành, tạo tiền đề cho việc mở rộng, phát triển các hoạt động chăm lo toàn diện, thiết thực cho đoàn viên, người lao động. Nhiều chương trình, mô hình, hoạt động chăm lo lợi ích cho đoàn viên, người lao động được duy trì, nhân rộng[v]. Đã hình thành một số mô hình mới trong chăm lo, thu được kết quả tích cực, tiêu biểu như “Bữa cơm công đoàn”[vi], “Bữa cơm tất niên công đoàn”[vii]. Đoàn viên, người lao động tích cực ủng hộ, hỗ trợ các trường hợp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, các hoạt động xã hội, tri ân, đền ơn đáp nghĩa. Tổng Liên đoàn đã chủ động đề xuất, phối hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách trong xây dựng nhà ở cho công nhân lao động[viii]; đồng thời tích cực xúc tiến việc triển khai đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân thuê theo quy định tại Luật Nhà ở[ix].
2.2. Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động đoàn viên, người lao động và truyền thông về tổ chức Công đoàn được chú trọng đổi mới về nội dung, hình thức
Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền về các ngày kỷ niệm, sự kiện lớn của Đảng[x], của đất nước[xi], tổ chức Công đoàn[xii]; các phong trào thi đua và cuộc vận động gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đoàn viên, người lao động được quan tâm, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tác phong làm việc, củng cố niềm tin của đoàn viên, người lao động với Đảng, Nhà nước và tổ chức Công đoàn.
Tích cực triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tổ chức Công đoàn, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch gắn với nâng cao chất lượng công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong đoàn viên, người lao động. Củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội. Xây dựng, nhân rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động các mô hình như “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh”, “Tổ tự quản khu nhà trọ công nhân”, “Khu nhà trọ an toàn, văn minh”... Phối hợp với lực lượng công an và các cơ quan chức năng triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền, phòng chống tội phạm, ma túy, tệ nạn xã hội, rà soát thông tin, đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch, góp phần đảm bảo an ninh công nhân.
Công tác truyền thông về tổ chức Công đoàn tiếp tục được chú trọng thông qua việc nâng cao năng lực triển khai công tác truyền thông của các cấp công đoàn và cán bộ công đoàn. Nội dung và hình thức truyền thông có nhiều đổi mới, tạo được nhiều sản phẩm truyền thông hiện đại truyền tải trên internet, mạng xã hội, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và lan tỏa hình ảnh tổ chức Công đoàn đến đoàn viên, người lao động và toàn xã hội[xiii]. Các cơ quan báo chí, xuất bản của Công đoàn đã tập trung nguồn lực, thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng tin, bài, ấn phẩm. Công tác phối hợp với các cơ quan báo chí được triển khai hiệu quả, thông tin toàn diện, đa dạng, chính xác, kịp thời, sâu rộng tình hình đời sống, việc làm, tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động và hoạt động công đoàn.
Các cấp công đoàn chủ động dành nguồn lực tổ chức và đề xuất, phối hợp với chính quyền, chuyên môn, người sử dụng lao động tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí, kết hợp với tuyên truyền chính trị tư tưởng, chính sách, pháp luật, thu hút đông đảo đoàn viên, người lao động tham gia. Hệ thống cung văn hóa, nhà văn hóa, thiết chế văn hóa, thể thao của công đoàn tiếp tục được sắp xếp, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao của đoàn viên, người lao động.
2.3. Các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy khát vọng cống hiến, thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của đoàn viên, người lao động
Phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, viên chức, lao động tiếp tục được quan tâm toàn diện, chỉ đạo triển khai đồng bộ, rộng khắp, thu hút đông đảo đoàn viên, người lao động hưởng ứng tham gia với hơn 383.837 sáng kiến, ứng dụng trong thực tiễn có tổng giá trị làm lợi hơn 40 nghìn tỷ đồng, là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ chính trị của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Các phong trào thi đua “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Văn hóa, thể thao”, “Xanh - Sạch - Đẹp, Bảo đảm an toàn vệ sinh lao động” tiếp tục được điều chỉnh, cụ thể hóa và triển khai sâu rộng trong các cấp công đoàn. Phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo, hiệu quả trong hoạt động của tổ chức Công đoàn” tiếp tục lan tỏa, tạo động lực thúc đẩy, khích lệ đội ngũ cán bộ công đoàn đề xuất các sáng kiến, ý tưởng sáng tạo, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn.
Các cấp công đoàn vận động đoàn viên, người lao động hưởng ứng tích cực, tham gia có hiệu quả các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động đặc biệt là phong trào “Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” và “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, qua đó khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc tham gia thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá của đất nước.
Công tác phát hiện, tuyên truyền, tôn vinh, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến được quan tâm. Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, sáng kiến cải tiến kỹ thuật từ cơ sở đã được biểu dương, nhân rộng kịp thời. Tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục khen thưởng được cập nhật, hoàn thiện, cụ thể hóa phù hợp với thực tiễn từng cấp công đoàn. Tỷ lệ khen thưởng cho công nhân lao động trực tiếp, người không giữ chức vụ lãnh đạo đạt hơn 35%, vượt chỉ tiêu đề ra, thể hiện rõ định hướng lấy đoàn viên, người lao động làm trung tâm, hướng mạnh khen thưởng về cơ sở, nơi trực tiếp tổ chức và hưởng ứng các phong trào thi đua.
2.4. Công tác xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, tập hợp đông đảo người lao động gia nhập Công đoàn Việt Nam được tập trung thực hiện, quyết liệt triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống công đoàn
Công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở được các cấp công đoàn xác định là nhiệm vụ quan trọng được quan tâm đặc biệt, tập trung nguồn lực thực hiện với nhiều cơ chế, giải pháp và cách làm đột phá. Mặc dù gặp nhiều khó khăn song với sự nỗ lực của các cấp công đoàn, cả nước phát triển mới được trên 2,2 triệu đoàn viên, với trên 15.000 công đoàn cơ sở/nghiệp đoàn cơ sở mới.
Công tác xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh được quan tâm, dần đi vào thực chất, tập trung vào các hoạt động trọng tâm, cốt lõi, thiết thực, thu hút được sự tham gia của đông đảo đoàn viên, người lao động. Hoạt động của ban chấp hành, ủy ban kiểm tra, tổ công đoàn trong các loại hình doanh nghiệp từng bước đi vào nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn tại cơ sở.
Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương và Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, các cấp công đoàn tập trung triển khai các nội dung về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy cơ quan công đoàn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và phương án sắp xếp lại địa giới hành chính. Cấp Trung ương cơ cấu lại thành 02 ban trực tiếp tham mưu (Ban Công tác Công đoàn và Ban Quan hệ Lao động). Cấp tỉnh: các ban chuyên môn được sắp xếp giảm còn 49 ban. Công đoàn ngành Trung ương, công đoàn tập đoàn kinh tế, tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn: giảm còn 17 đơn vị (trước là 19). Đã kết thúc hoạt động toàn bộ công đoàn cấp huyện, công đoàn khu công nghiệp, công đoàn ngành địa phương; thành lập 705 công đoàn xã, phường, đặc khu; sắp xếp giảm từ 12 đơn vị sự nghiệp trực thuộc còn 07 đơn vị, 19 cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện còn 9 cơ sở.
Công tác cán bộ công đoàn được chú trọng, nhất là đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên trách và chủ tịch công đoàn cơ sở, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, đúng nguyên tắc, quy định. Việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công đoàn gắn với tinh giản biên chế được tập trung triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ cùng với quá trình thực hiện sắp xếp hệ thống tổ chức bộ máy[xiv]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp tiếp tục được quan tâm, từng bước đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh quan hệ lao động ngày càng phức tạp, đa dạng, góp phần nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp nhất là đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở.
2.5. Công đoàn tích cực tham gia xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
Các cấp công đoàn tích cực tham mưu cấp ủy, chủ động triển khai các giải pháp về xây dựng giai cấp công nhân, nâng cao nhận thức chính trị, giác ngộ giai cấp, thúc đẩy việc chăm lo lợi ích, cải thiện đời sống, điều kiện làm việc, giải quyết các vấn đề bức xúc, cấp bách của công nhân, đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động. Đã tham mưu báo cáo Đề án, đề xuất Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới”[xv].
Công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, góp phần giúp công nhân làm chủ công nghệ mới, thích ứng với những thay đổi về công nghệ sản xuất và việc làm trong trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với triển khai Chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong công nhân lao động tại các doanh nghiệp đến năm 2030” theo Quyết định số 1268/QĐ-TLĐ ngày 19/10/2022 của Thủ tướng Chính phủ[xvi]. Có 6.234 công đoàn cơ sở thương lượng thành công với người sử dụng lao động bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ CNLĐ học tập, nâng cao tay nghề.
Tháng Công nhân tiếp tục được đổi mới cả về nội dung hoạt động và hình thức tổ chức, hướng về cơ sở, chăm lo thiết thực, tôn vinh và khẳng định vai trò tiên phong, sáng tạo của giai cấp công nhân, tạo sự quan tâm của toàn xã hội trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh.
Các cấp công đoàn tích cực phát hiện, bồi dưỡng cán bộ, đoàn viên ưu tú, có triển vọng giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp, thúc đẩy công tác phát triển đảng viên và tổ chức đảng tại các doanh nghiệp. Đã giới thiệu hơn 200 nghìn đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, bồi dưỡng, có gần 100 nghìn đoàn viên được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Công đoàn tích cực tham mưu với cấp uỷ đảng cùng cấp chuẩn bị, lựa chọn, giới thiệu cán bộ công đoàn tham gia cấp ủy và cơ quan dân cử các cấp; tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, tuyên truyền, phổ biến, lấy ý kiến của công nhân, viên chức, lao động tham gia đóng góp ý kiến xây dựng văn kiện đại hội đảng các cấp, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với hơn 625 nghìn lượt ý kiến góp ý trực tiếp thông qua các hội nghị, hội thảo, tọa đàm khoa học và hơn 12 nghìn lượt ý kiến góp ý thông qua ứng dụng VneID.
Tích cực, chủ động tham gia giám sát, phản biện xã hội; tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền theo Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị, đồng thời thực hiện tốt vai trò “tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội”, tham gia cùng hệ thống chính trị đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; tham gia xây dựng, chỉnh đốn và bảo vệ Đảng; đẩy mạnh hiệp thương, thống nhất, phối hợp hành động trong khối Mặt trận, qua đó phát huy mạnh mẽ, khẳng định rõ nét vai trò nòng cốt của tổ chức Công đoàn trong thúc đẩy liên minh giai cấp công nhân - nông dân - đội ngũ trí thức.
2.6. Công tác nữ công tiếp tục đổi mới, góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh trong đoàn viên, người lao động
Các cấp công đoàn chủ động phối hợp tham gia xây dựng, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến lao động nữ; kịp thời đề xuất, thương lượng với người sử dụng lao động nhằm bảo đảm việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, quan tâm nhiều hơn đến lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ và có hoàn cảnh khó khăn. Một số mô hình, chính sách hỗ trợ thiết thực được triển khai, trong đó có chương trình tặng sổ tiết kiệm “Công đoàn cùng em tiến bước”, góp phần chia sẻ khó khăn với con đoàn viên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, rủi ro.
Hoạt động tuyên truyền trong nữ đoàn viên, người lao động được đẩy mạnh, gắn với chăm sóc sức khỏe sinh sản, nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con, góp phần chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho người lao động. Công tác củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của ban nữ công quần chúng được chú trọng.
Các phong trào thi đua trong nữ đoàn viên tiếp tục được duy trì, đổi mới về nội dung, hình thức, tiêu biểu là phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Lần đầu tiên Tổng Liên đoàn tổ chức trao Giải thưởng “Nữ đoàn viên công đoàn năng động, trách nhiệm, sáng tạo” kết hợp sơ kết 5 năm phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” giai đoạn 2020 - 2025 tạo động lực lan tỏa tinh thần đổi mới, sáng tạo trong lao động nữ. Công tác phối hợp, lồng ghép hoạt động giữa công đoàn và Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp được tăng cường, góp phần phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội.
2.7. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế của Công đoàn Việt Nam được nâng cao, góp phần vào thành công chung của đối ngoại nhân dân
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý hoạt động đối ngoại được thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống theo quy chế quản lý hoạt động đối ngoại. Các hoạt động đối ngoại song phương tiếp tục duy trì hiệu quả; củng cố, duy trì, làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với công đoàn các nước, khôi phục các quan hệ hợp tác bị gián đoạn, từng bước mở rộng quan hệ với các đối tác mới theo chủ trương của Đảng.
Hoạt động đối ngoại đa phương được đẩy mạnh, đã chủ động tham gia, đóng góp tích cực trong các diễn đàn và hoạt động công đoàn quốc tế; tham gia có trách nhiệm trong thực hiện các nghĩa vụ thành viên của công đoàn quốc tế, đăng cai tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện quốc tế lớn, quan trọng. Hiệu quả hợp tác với các tổ chức công đoàn khu vực và quốc tế, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các cơ quan của Liên Hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ được nâng cao. Một số công đoàn ngành trung ương tham gia ngày càng sâu vào hoạt động của các công đoàn ngành, nghề quốc tế và khu vực.
Công tác vận động, tranh thủ sự ủng hộ, hỗ trợ, hợp tác về kỹ thuật, tài chính, kinh nghiệm của đối tác quốc tế được duy trì. Công tác thông tin đối ngoại có chuyển biến tích cực. Công tác tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công đoàn làm công tác đối ngoại được triển khai với nhiều hình thức đa dạng. Công tác nghiên cứu về phong trào công nhân và công đoàn quốc tế được quan tâm với nhiều đề tài nghiên cứu phục vụ các đề án quan trọng.
2.8. Công tác tài chính tiếp tục được đổi mới, góp phần xây dựng nguồn lực phục vụ hiệu quả nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn
Tổng Liên đoàn đã tập trung nghiên cứu ban hành hơn 20 văn bản về thu, chi, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công đoàn phù hợp với mô hình sắp xếp tổ chức bộ máy và các quy định hiện hành của Nhà nước.
Các cấp công đoàn thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý tài chính nhằm thu đúng, thu đủ, hạn chế thất thu và nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính, tài sản công đoàn. Tích cực tham gia trong quá trình, xây dựng hoàn thiện Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về tài chính công đoàn; tiếp tục mở rộng việc thu kinh phí công đoàn khu vực sản xuất kinh doanh tập trung qua hệ thống ngân hàng. Công tác kiểm tra, giám sát tài chính công đoàn được tăng cường. Tổ chức triển khai kiểm toán độc lập đối với một số công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở. Công khai tài chính công đoàn được thực hiện đúng quy định với nhiều hình thức, nhất là tại các công đoàn cơ sở, đơn vị có đông đoàn viên, công nhân lao động.
Công tác kiểm tra, giám sát tài chính công đoàn được tăng cường. Tổ chức kiểm toán độc lập đối với công đoàn cấp tỉnh, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở. Công khai tài chính công đoàn được thực hiện đúng quy định đặc biệt là tại các công đoàn cơ sở, đơn vị đông đoàn viên.
Đã xây dựng và hoàn thiện phương án sắp xếp tổng thể cơ sở nhà, đất, tài sản công của tổ chức Công đoàn; đề án sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp của tổ chức Công đoàn, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 từ nguồn tài chính công đoàn, ngân sách nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác.
2.9. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả
Nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được nâng lên, quan tâm tổng kết, sơ kết các nghị quyết, kết luận về công tác kiểm tra, giám sát, định hướng các chủ trương, giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong tình hình mới.
Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp bám sát chủ trương của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam, đại hội công đoàn cùng cấp, tiến hành đổi mới về nội dung, phương thức thực hiện kiểm tra, giám sát về chấp hành Điều lệ Công đoàn, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế công đoàn đặc biệt là kiểm tra tài chính (ưu tiên tập trung kiểm tra tại công đoàn cơ sở).
Số lượng, chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát được nâng lên. Đã thực hiện 151.994 cuộc kiểm tra việc chấp hành Điều lệ, 252.992 cuộc kiểm tra về tài chính, 436 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; tổ chức giám sát chuyên đề 53.378 cuộc. Công tác giải quyết, tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời. Qua đó, đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ; tích cực phát hiện và ngăn chặn kịp thời các biểu hiện vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn; nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công đoàn, hạn chế tiêu cực, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động.
2.10. Phương thức hoạt động công đoàn tiếp tục được đổi mới, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh
Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp tiếp tục có nhiều đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành theo hướng phát huy dân chủ, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo và tổ chức hoạt động, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Chú trọng cải cách hành chính trong hoạt động công đoàn; nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ; phát huy tốt các quy chế, chương trình phối hợp giữa tổ chức Công đoàn với Chính phủ, các ban, bộ ngành trung ương, cấp ủy, chính quyền tại địa phương, tạo sự quan tâm chỉ đạo đồng bộ, kịp thời, nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn.
Các cấp công đoàn đã tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn đã ban hành Đề án chuyển đổi số trong hoạt động công đoàn đến năm 2026, tầm nhìn đến năm 2030; tích cực tham gia, chủ động đề xuất và triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến tổ chức, hoạt động công đoàn trong Đề án Chuyển đổi số của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cơ bản hoàn thành việc số hóa tài liệu của Công đoàn Việt Nam giai đoạn 1929 - 2018.
Đánh giá chung: Giai đoạn 2023 – 2026, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của các cấp công đoàn, hoạt động công đoàn tiếp tục có bước chuyển quan trọng, nhiều nội dung mới được triển khai, đạt kết quả. Trong tổng số 10 nhóm chỉ tiêu, có 8 nhóm chỉ tiêu đạt và vượt.
Đạt được kết quả trên là do nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, phối hợp của Nhà nước, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, người sử dụng lao động; sự chủ động, nỗ lực, đổi mới, sáng tạo của đội ngũ cán bộ công đoàn, sự đồng thuận, ủng hộ, tham gia hưởng ứng của đội ngũ đoàn viên, người lao động cả nước cùng sự quan tâm, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân.
3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
3.1. Tồn tại, hạn chế
- Kết quả thực hiện nhiêm vụ đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động và xây dựng quan hệ lao động chưa đồng đều giữa các địa phương, khu vực, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Việc phản ứng với các tình huống khẩn cấp, bất ngờ có lúc, có nơi còn chậm. Việc tiếp cận người lao động khu vực phi chính thức và nhóm yếu thế chưa hiệu quả.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho đoàn viên, người lao động và nắm bắt dư luận xã hội chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Sự tham gia của một số công đoàn cơ sở và một số Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn hạn chế.
- Phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở chưa đạt chỉ tiêu đề ra; mô hình tổ chức bộ máy công đoàn và việc vận hành bộ máy sau sắp xếp còn bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động công đoàn.
- Tình trạng thất thu kinh phí công đoàn còn xảy ra ở không ít doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, doanh nghiệp chưa có tổ chức Công đoàn; quản lý tài chính có nơi chưa chặt chẽ; hiệu quả hoạt động của một số đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp trực thuộc chưa cao.
- Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam ở một số nội dung, lĩnh vực còn chậm; có 2 chỉ tiêu chưa đạt[xvii]. Chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đề ra.
3.2. Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan: Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn chưa đầy đủ. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động có mặt còn bất cập; tình trạng vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động còn xảy ra nhiều. Việc triển khai, vận hành tổ chức bộ máy theo mô hình mới khó tránh khỏi lúng túng, vướng mắc.
- Tuy nhiên nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu. Công tác tham mưu cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam có lĩnh vực chưa chủ động, chậm ban hành văn bản chỉ đạo hoặc thiếu đôn đốc, hướng dẫn, giám sát quá trình tổ chức thực hiện. Tư duy, tầm nhìn của một bộ phận cán bộ công đoàn chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; năng lực thích ứng và cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chương trình, kế hoạch hoạt động của công đoàn cấp trên tại một số đơn vị cấp tỉnh, ngành và cơ sở còn hạn chế. Người đứng đầu tổ chức Công đoàn ở một số địa phương, đơn vị, cấp công đoàn thiếu đổi mới, sáng tạo, quyết đoán, sợ trách nhiệm, chưa sâu sát cơ sở...
4. Bài học kinh nghiệm
Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, thường xuyên của Đảng đối với tổ chức và hoạt động công đoàn. Cụ thể hóa kịp thời các chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn, nhu cầu, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động, đảm bảo hài hòa lợi ích người lao động - doanh nghiệp - xã hội, thống nhất với lợi ích của Đảng, quốc gia, dân tộc.
Thứ hai, tập trung mọi nguồn lực thực hiện tốt chức năng cơ bản, nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi của tổ chức Công đoàn là đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động, tạo sức hấp dẫn và niềm tin để người lao động tham gia và gắn bó với tổ chức Công đoàn.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, nhất là cán bộ công đoàn chuyên trách và chủ tịch công đoàn cơ sở tâm huyết, trách nhiệm, bản lĩnh, có kỹ năng và phương pháp công tác, thấu hiểu đoàn viên, người lao động, am hiểu tình hình doanh nghiệp, đơn vị.
Thứ tư, hoạt động công đoàn phải tập trung ở cơ sở, lấy đoàn viên, người lao động làm trung tâm; mọi chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch hoạt động công đoàn phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động, phù hợp với từng loại hình công đoàn cơ sở và đặc thù của mỗi doanh nghiệp, đơn vị.
Thứ năm, thường xuyên đổi mới tư duy, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; nâng cao năng lực dự báo, năng lực thích ứng, năng lực thuyết phục của tổ chức Công đoàn.
II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU PHẤN ĐẤU NHIỆM KỲ 2026 - 2031
1. Dự báo tình hình quốc tế và trong nước
Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng và phân tuyến mạnh. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn song đứng trước nhiều thách thức mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ diễn ra phức tạp, gay gắt hơn. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra với tốc độ nhanh hơn, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực. Lực lượng sản xuất mới, nhất là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo phát triển đột phá chưa từng có. Xu thế tự chủ chiến lược về kinh tế, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng ngày càng được quan tâm thúc đẩy.
Trong nước, sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với việc ban hành mới nhiều quyết sách chiến lược[xviii] tạo ra cơ hội lịch sử cho sự phát triển đột phá của đất nước, sự lớn mạnh của tổ chức Công đoàn và nâng cao vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam. Tuy nhiên, đất nước ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Kinh tế - xã hội phát triển chưa bền vững; năng suất lao động thấp; yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số đối mặt nhiều thách thức. Nguy cơ tụt hậu, nhất là về công nghệ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình luôn hiển hiện. Quá trình già hóa dân số, phân cực giàu - nghèo có xu hướng gia tăng, tạo ra các thách thức đa chiều đối với kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội.
Cơ cấu lao động tiếp tục có sự thay đổi mạnh mẽ. Lao động trong các doanh nghiệp tư nhân, lao động khu vực phi chính thức có xu hướng tăng nhanh. Người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm, phát triển bản thân song chất lượng nguồn nhân lực nước ta nhìn chung còn thấp, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Một bộ phận người lao động đối diện nguy cơ mất việc làm trong bối cảnh tự động hóa, nếu không được quan tâm sẽ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau.
Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thúc đẩy quan hệ lao động phát triển, vận hành đầy đủ theo quy luật thị trường, phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp ra đời đặt ra những yêu cầu, thách thức rất mới, chưa có tiền lệ đối với hoạt động công đoàn, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không được quản lý, định hướng đúng.
Bối cảnh trên đòi hỏi các cấp công đoàn phải tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, nội dung, phương thức hoạt động trên cơ sở đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, người lao động, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Hoạt động công đoàn tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo, cống hiến của đoàn viên, người lao động trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chào mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Công đoàn Việt Nam, hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước.
2. Mục tiêu
Tập trung phát triển đoàn viên, hoàn thiện mô hình tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động; đầu tư nguồn lực, đổi mới cách làm trong thực hiện nhiệm vụ đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động; thúc đẩy thực hiện dân chủ tại nơi làm việc; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người lao động đổi mới sáng tạo, tiên phong ứng dụng khoa học – công nghệ, xây dựng lực lượng sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động, góp phần xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
3. Chỉ tiêu phấn đấu đến hết nhiệm kỳ
- Phát triển thực tăng ít nhất 4.000.000 đoàn viên công đoàn; hầu hết doanh nghiệp có 20 công nhân, lao động trở lên có tổ chức Công đoàn.
- Hoàn thành số hóa 100% dữ liệu đoàn viên công đoàn.
- 100% cán bộ công đoàn các cấp được tập huấn, bồi dưỡng lý luận nghiệp vụ, kỹ năng công tác công đoàn.
- Công đoàn cơ sở giới thiệu ít nhất 300.000 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, bồi dưỡng kết nạp.
- Ít nhất 85% các doanh nghiệp, đơn vị có tổ chức Công đoàn ký kết được thoả ước lao động tập thể.
- 100% công đoàn cơ sở khu vực nhà nước, ít nhất 85% công đoàn cơ sở ngoài khu vực nhà nước tham gia với người sử dụng lao động ban hành, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Ít nhất 90% đoàn viên công đoàn, 85% công nhân lao động tại doanh nghiệp được tuyên truyền, phổ biến, học tập, quán triệt chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến lao động và công đoàn.
- Công đoàn tham gia thúc đẩy để ít nhất 65% công nhân lao động tại các doanh nghiệp tham gia học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp.
- Thông qua các phong trào thi đua của tổ chức Công đoàn, có ít nhất 2 triệu sáng kiến của đoàn viên, người lao động được ứng dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và công tác; xét tặng ít nhất 2.500 Bằng Lao động sáng tạo.
- Ít nhất 90% công đoàn cơ sở đủ điều kiện thành lập ban nữ công quần chúng theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
III. NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẠI DIỆN, CHĂM LO, BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP, CHÍNH ĐÁNG CỦA ĐOÀN VIÊN, NGƯỜI LAO ĐỘNG
Tập trung nguồn lực, nâng cao năng lực toàn diện để Công đoàn Việt Nam xứng đáng là đại diện duy nhất của người lao động ở cấp quốc gia trong quan hệ lao động; thành viên tích cực, có trách nhiệm trong Hội đồng Tiền lương quốc gia, Ủy ban Quan hệ lao động, Hội đồng Quản lý Qũy Bảo hiểm xã hội và các thiết chế 3 bên trong lĩnh vực lao động.
Chủ động nghiên cứu, nâng cao hiệu quả hoạt động tham gia xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động, coi đây là biện pháp bảo vệ người lao động từ xa, trên diện rộng và hiệu quả. Tập trung vào chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động, nhà ở, trường học, cơ sở khám chữa bệnh và các thiết chế văn hoá phục vụ đoàn viên, người lao động; kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tố tụng lao động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người lao động trong giải quyết tranh chấp lao động… Triển khai nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động phải bám sát định hướng của Đảng về phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, lấy con người làm trung tâm; phát triển thị trường lao động linh hoạt, đồng bộ, hiện đại và hội nhập, chú trọng tạo việc làm có thu nhập ổn định, hỗ trợ cho người lao động trong khu vực phi chính thức, người sau độ tuổi lao động.
Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện nhiệm vụ đối thoại định kỳ, thương lượng tập thể thực chất, bảo vệ quyền lợi người lao động. Nâng cao số lượng, chất lượng, hiệu quả đối thoại, thương lượng tập thể, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể, tập trung vấn đề tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, điều kiện lao động, nâng cao trình độ tay nghề và kỹ năng sống cho người lao động. Chủ động tham mưu, phối hợp tổ chức các diễn đàn, hội nghị để lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đại biểu dân cử, tổ chức của người sử dụng lao động các cấp tiếp xúc, lắng nghe, đối thoại với đoàn viên, người lao động.
Đẩy mạnh chăm lo, bảo vệ lao động nữ, thúc đẩy bình đẳng giới tại nơi làm việc; đồng hành cùng nữ đoàn viên, người lao động trong xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh, phòng chống bạo lực gia đình; thực hiện tốt các hoạt động chăm lo cho trẻ em con đoàn viên, người lao động, làm tốt công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tinh thần cho nữ đoàn viên, người lao động. Tiếp tục duy trì và đổi mới các mô hình hoạt động nữ công hiện có, tạo sân chơi lành mạnh, thu hút nữ đoàn viên, người lao động tích cực tham gia.
Triển khai đồng bộ các giải pháp nắm chắc tình hình quan hệ lao động, nhất là những nơi có nguy cơ phát sinh tranh chấp, xung đột, ngừng việc tập thể. Phối hợp chặt chẽ với các chủ thể liên quan xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại nơi làm việc. Nâng cao hiệu quả công tác tham gia giải quyết tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, đình công ngoài quy định của pháp luật. Đầu tư nguồn lực, làm tốt công tác tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý, bảo vệ quyền lợi cho đoàn viên, người lao động. Nghiên cứu xây dựng đội ngũ luật sư công đoàn; tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động của trung tâm tư vấn và hỗ trợ người lao động.
Xây dựng và triển khai các chương trình phúc lợi ổn định, dài hạn, chăm lo cho đoàn viên, người lao động, nhất là đối tượng gặp khó khăn do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thiên tai, dịch bệnh, đứt gẫy chuỗi cung ứng; nghiên cứu, triển khai các giải pháp khả thi chăm lo lợi ích thiết thực cho lao động khu vực phi chính thức. Đổi mới phương thức huy động nguồn lực thực hiện chăm lo phúc lợi theo hướng đa dạng, linh hoạt, bền vững, chủ động, trong đó quan tâm nguồn hỗ trợ từ người sử dụng lao động.
Các hoạt động chăm lo phúc lợi phải kịp thời, thiết thực, đúng đối tượng, tăng cường ứng dụng chuyển đổi số. Nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý, phát triển nguồn vốn các chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức Công đoàn, các nguồn vốn hợp pháp khác để phát triển kinh tế gia đình, góp phần phòng, chống “tín dụng đen” trong đoàn viên, người lao động. Tập trung nguồn lực, hoàn thiện cơ chế đẩy mạnh việc xây dựng thiết chế văn hóa, nhà ở cho công nhân, lao động thuê từ nguồn tài chính công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu đề ra.
Phối hợp chặt chẽ với chính quyền, người sử dụng lao động làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động; phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên, vận động công nhân, viên chức, lao động phát huy sáng kiến, tự cải thiện điều kiện làm việc, tích cực tham gia xây dựng văn hóa an toàn trong lao động, sản xuất, công tác...
IV. PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN CÁC CẤP THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI; THAM GIA KIỂM TRA, THANH TRA, GIÁM SÁT
Chủ động, tích cực khẳng định vai trò của tổ chức chính trị - xã hội trong tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, góp phần hoàn thiện thể chế, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Xác định tham gia xây dựng chính sách, pháp luật vừa thể hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động; vừa thực hiện cơ chế đối thoại đa chiều trong quản trị quốc gia, góp phần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người lao động, người sử dụng lao động, tạo sự đồng thuận trong thực thi chính sách, pháp luật.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp, tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động. Các cấp công đoàn chủ động phát hiện, đề xuất với cơ quan dân cử, cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc các cấp về vấn đề, địa bàn, đơn vị cần kiểm tra, thanh tra, giám sát nhằm phòng ngừa và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động. Phát huy vai trò chủ động của Công đoàn trong giám sát mang tính xã hội giúp kịp thời bảo vệ quyền lợi đoàn viên, người lao động, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật. Đẩy mạnh tham gia ý kiến, phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của các cơ quan nhà nước có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của đoàn viên công đoàn, người lao động.
Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ tại nơi làm việc bảo đảm thực chất, phát huy quyền làm chủ, năng lực sáng tạo của người lao động trong xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Nghiên cứu, đề xuất mô hình thực hiện dân chủ tại nơi làm việc ở những nơi chưa có tổ chức Công đoàn.
Thúc đẩy việc cung cấp, kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu về tổ chức và hoạt động công đoàn với cơ quan quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật. Tạo chuyển biến mạnh về ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành và hoạt động công đoàn. Động viên, hỗ trợ người lao động trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số.
Triển khai sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, thúc đẩy đoàn viên, người lao động ra sức học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ vào sản xuất, công tác, góp phần tạo đột phá về nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đổi mới, nâng tầm các phong trào thi đua truyền thống của tổ chức Công đoàn đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; phát động phong trào thi đua “Lao động giỏi, Năng suất cao, Thu nhập tốt” từ nền tảng là phong trào thi đua “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo”. Triển khai cuộc vận động “3 tiết kiệm” trong cán bộ công đoàn, đoàn viên, người lao động (Tiết kiệm thời gian và sức lao động; Tiết kiệm năng lượng và tài nguyên; Tiết kiệm trong chi tiêu, mua sắm). Các phong trào thi đua, cuộc vận động phải có tính hiệu triệu mạnh mẽ, bám sát yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, thúc đẩy nâng cao vị thế và uy tín của tổ chức Công đoàn, mang lại lợi ích cho đông đảo đoàn viên, người lao động. Việc triển khai các phong trào thi đua, cuộc vận động phải khoa học, bài bản, duy trì thường xuyên, thấm sâu, hướng mạnh về cơ sở, lượng hóa bằng các sản phẩm, kết quả cụ thể. Quan tâm phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng, tôn vinh và nhân rộng điển hình tiên tiến; chú trọng khen thưởng người trực tiếp sản xuất, người có thành tích đột xuất, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao; xây dựng các mô hình, sáng kiến tiêu biểu đa dạng trên các lĩnh vực hoạt động công đoàn. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức trong công tác khen thưởng, bảo đảm động viên, tôn vinh đúng người, đúng việc, đúng thành tích, khơi dậy tinh thần cống hiến, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn hệ thống và xã hội.
V. TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC, VẬN ĐỘNG ĐOÀN VIÊN, NGƯỜI LAO ĐỘNG HỌC TẬP, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ, KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP, CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục, vận động theo hướng chủ động, kịp thời, thuyết phục và hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc “Nhanh - Ngắn- Sâu – Rõ”. Đẩy mạnh tương tác hai chiều, lấy người lao động làm trung tâm; kết hợp truyền thống và hiện đại, trực tiếp và trực tuyến; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội trong tuyên truyền, giáo dục và vận động.
Lấy giáo dục chính trị tư tưởng là cơ sở, giáo dục pháp luật, văn hóa ứng xử và tác phong công nghiệp là cơ bản. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật lao động, tác phong làm việc, củng cố niềm tin của đoàn viên, người lao động vào Đảng, Nhà nước, chế độ và tổ chức Công đoàn.
Nắm chắc, dự báo chính xác, định hướng kịp thời, xử lý đúng đắn, hiệu quả các vấn đề tư tưởng, dư luận của đoàn viên, người lao động, đảm bảo thống nhất trong toàn hệ thống. Tăng cường bảo vệ truyền thống, thành quả, hình ảnh của Công đoàn Việt Nam, kiên quyết, kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Quan tâm tuyên truyền phòng, chống tội phạm, ma túy, tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh trong công nhân.
Xây dựng hệ thống báo chí, xuất bản, các kênh truyền thông của tổ chức Công đoàn đủ mạnh, chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại, phục vụ ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chính trị của tổ chức công đoàn. Nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của đoàn viên, đẩy mạnh truyền thông tại công đoàn cơ sở. Kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội, lực lượng công nhân nòng cốt của tổ chức Công đoàn.
Tham gia xây dựng xã hội học tập, phong trào học tập suốt đời, vận động đoàn viên, người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống, tác phong làm việc, khả năng thích ứng, làm chủ công nghệ, trở thành “Công dân số”, “Công nhân số”, “Lao động số” thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đề xuất, phối hợp xây dựng các cơ chế, chính sách, triển khai các giải pháp đảm bảo việc làm bền vững cho người lao động, tham gia phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động. Củng cố, đầu tư nguồn lực, nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo của tổ chức Công đoàn, tham gia tích cực trong quá trình đào tạo, đào tạo lại và nâng cao tay nghề cho công nhân.
Tiếp tục phát huy hiệu quả, xây dựng, các mô hình hoạt động trong Tháng Công nhân, chú trọng phát triển các hoạt động thiết thực, có tính lan tỏa tại cơ sở, phù hợp với điều kiện sống, làm việc của công nhân. Quan tâm chăm lo đời sống văn hóa tinh thần của đoàn viên, người lao động. Tăng cường tổ chức các hoạt động, sự kiện văn hóa, thể thao, giải trí, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người lao động. Sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cung văn hóa, nhà văn hóa, thiết chế văn hóa, thể thao của Công đoàn. Nghiên cứu xây dựng, phát triển văn hóa công nhân Việt Nam gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
VI. XÂY DỰNG TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VỮNG MẠNH, THAM GIA XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, MỞ RỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ CÔNG ĐOÀN
Tập trung khảo sát, tuyên truyền để phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở; đề xuất giải pháp tập hợp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nơi không có tổ chức Công đoàn. Đổi mới nội dung sinh hoạt, nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn; kịp thời củng cố, kiện toàn các đơn vị yếu kém, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý đoàn viên và hoạt động công đoàn. Hoàn thiện mô hình và cơ chế hoạt động của nghiệp đoàn, tăng cường tập hợp đoàn viên tại các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Nghiên cứu, triển khai các giải pháp thu hút tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp gia nhập công đoàn. Thúc đẩy thành lập Ban nữ công quần chúng tại công đoàn cơ sở.
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy các cấp công đoàn đảm bảo hoạt động thông suốt, đồng bộ, hiệu quả. Hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp công đoàn theo hướng bám sát nhiệm vụ trọng tâm là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, đảm bảo mỗi cấp được phân công thực hiện nhóm nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với vị trí, vai trò, điều kiện và nguồn lực. Nghiên cứu, sắp xếp cơ cấu tổ chức bên trong theo hướng mở, linh hoạt, năng động. Đổi mới, hoàn thiện công tác đánh giá xếp loại chất lượng hoạt động của các cấp công đoàn, nhất là tại cấp cơ sở, hàng năm phấn đấu ít nhất 75% công đoàn cơ sở, 65% nghiệp đoàn cơ sở đạt loại tốt.
Triển khai các giải pháp xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, nhất là cán bộ chuyên trách và chủ tịch công đoàn cơ sở. Cụ thể hóa và hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí và cơ chế đánh giá cán bộ công đoàn. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành chính sách phù hợp để tuyển dụng cán bộ công đoàn trưởng thành từ cơ sở, trong phong trào công nhân. Xây dựng quy hoạch cán bộ, đào tạo cán bộ theo vị trí việc làm, chuẩn bị nguồn cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, phương pháp công tác phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển công đoàn trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn đảm bảo chuẩn hóa, khoa học, thực tiễn, sáng tạo.
Phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, nòng cốt trong liên minh công - nông - trí thức; củng cố và giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng; đẩy mạnh hiệp thương, thống nhất phối hợp hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tiếp tục khẳng định trách nhiệm chính trị và phát huy vai trò của công đoàn trong công tác xây dựng Đảng và phát triển đảng viên. Tích cực tuyên truyền về Đảng, phát hiện, bồi dưỡng, giác ngộ đoàn viên, cán bộ công đoàn ưu tú, có triển vọng, giới thiệu cho Đảng xem xét, phát triển đảng viên. Chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan trong công tác xây dựng tổ chức đảng tại doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng góp ý, xây dựng Đảng, Nhà nước và triển khai các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Xây dựng tài chính công đoàn phát triển bền vững, tạo nguồn lực đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn trong bối cảnh mới. Kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về công tác quản lý tài chính, tài sản. Quyết liệt triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu, quản lý, sử dụng tài chính công đoàn đảm bảo đúng quy định, công khai, minh bạch, hiệu quả. Nâng cao hiệu quả phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính. Đổi mới cơ chế phân cấp tài chính công đoàn theo hướng toàn diện, triệt để, thực hiện kiểm toán độc lập đối với công tác quản lý tài chính công đoàn. Đổi mới quản lý tài sản công đoàn theo hướng chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả. Chỉ đạo sắp xếp, kiện toàn, đổi mới mạnh mẽ các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trực thuộc Tổng Liên đoàn theo hướng tự chủ, nâng cao chất lượng dịch vụ; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, góp phần phục vụ tốt hoạt động công đoàn.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và hoạt động kiểm tra, giám sát của ban thường vụ, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp; hàng năm 100% công đoàn cấp tỉnh, ngành xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát. Tiếp tục đổi mới phương pháp hoạt động của ủy ban kiểm tra, lựa chọn nội dung kiểm tra, giám sát phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng kiểm tra, giám sát về tài chính; bảo đảm nguyên tắc và quy trình, nâng cao trách nhiệm của đoàn kiểm tra và việc thực hiện kết luận kiểm tra. Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hệ thống ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp.
Mở rộng hợp tác quốc tế về công đoàn, nâng cao vị thế, uy tín của Công đoàn Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Tăng cường, làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với các đối tác song phương; đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, phát huy vai trò thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các tổ chức Công đoàn khu vực và quốc tế, góp phần nâng cao vị thế, vai trò và đóng góp của tổ chức Công đoàn Việt Nam. Đổi mới nội dung, phương thức đối ngoại nhân dân theo hướng thiết thực, hiệu quả, phục vụ trực tiếp lợi ích người lao động. Thúc đẩy trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tri thức quốc tế về hoạt động công đoàn. Tranh thủ và quản lý, sử dụng phù hợp, có hiệu quả nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển hoạt động công đoàn.
VII. ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO TẠI CÁC CẤP CÔNG ĐOÀN
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án của các cấp công đoàn theo hướng ngắn gọn, khả thi, sát thực tiễn, dễ thực hiện. Quan tâm đầu tư nguồn lực, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học nhằm cung cấp các luận cứ chất lượng phục vụ cho việc định hướng, chỉ đạo nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn. Chú trọng chỉ đạo điểm, thực hiện thí điểm đối với những chủ trương mới trước khi nhân rộng. Tăng cường phối hợp với các ban, bộ, ngành, chính quyền, đoàn thể, người sử dụng lao động nhằm tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tổ chức các hoạt động, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động.
Đẩy mạnh cải cách hành chính; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và hoạt động công đoàn; tập trung triển khai quyết liệt Đề án chuyển đổi số của tổ chức Công đoàn; trọng tâm là xây dựng, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu đoàn viên – người lao động và dữ liệu quan hệ lao động nhằm nâng cao hiệu quả đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; quản lý tài chính, tài sản công đoàn; số hóa công tác tuyên truyền, vận động, tiến tới xây dựng “hệ sinh thái số” phục vụ toàn diện nhu cầu thông tin, pháp luật, phúc lợi của người lao động.
Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định hiện hành đảm bảo phù hợp với các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn theo hướng đơn giản hóa, phân cấp, phân quyền, thiết thực, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ làm, dễ triển khai, thuận tiện trong đánh giá.
Đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo và cán bộ công đoàn; sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc, quy định chặt chẽ nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ, quy trình công tác, đảm bảo kỷ cương thực thi.
Cán bộ công đoàn các cấp thực hiện nghiêm túc, hiệu quả “2 thấu”: thấu hiểu người lao động, thấu đáo trong hoạt động công đoàn; “3 gần”: gần người lao động, gần cơ sở, gần không gian số; “4 không”: không hình thức, không né tránh, không đùn đẩy, không làm sai chức năng; “5 phải”: phải lắng nghe, phải đối thoại, phải làm mẫu, phải chịu trách nhiệm, phải báo cáo kết quả. Tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng - kỷ luật nghiêm minh. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm: họp ít hơn, hành động nhiều hơn; ít khẩu hiệu hơn, nhiều kết quả hơn; ít thủ tục hơn và sự hài lòng của người lao động nhiều hơn.
VIII. CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ, CHƯƠNG TRÌNH, ĐỀ ÁN THỰC HIỆN TRONG NHIỆM KỲ
1. Khâu đột phá
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ chuyên trách và chủ tịch công đoàn cơ sở.
- Ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động công đoàn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
2. Chương trình
- Phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, tham gia xây dựng Đảng tại doanh nghiệp.
- Đổi mới công tác tài chính công đoàn và nâng cao phúc lợi đoàn viên.
- Công đoàn đồng hành với Chính phủ nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
3. Đề án
- Nâng cao hiệu quả công tác đối thoại, thương lượng tập thể và xây dựng quan hệ lao động giai đoạn 2026 – 2031.
- Công đoàn tham gia phát triển lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy việc làm có thu nhập ổn định cho người lao động.
- Chuyển đổi số trong hoạt động công đoàn.
- Xây dựng mô hình tổ chức Công đoàn mở, linh hoạt, năng động.
Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam đánh dấu bước phát triển mới của tổ chức Công đoàn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Phát huy truyền thống vẻ vang của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam, Đại hội kêu gọi cán bộ công đoàn, đoàn viên, người lao động cả nước đoàn kết, nêu cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm vượt mọi khó khăn, thử thách, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, thiết thực hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Công đoàn Việt Nam, 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 100 năm thành lập Nước, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
[i] Cả nước hiện có khoảng 17,5 triệu lao động trong lĩnh vực công nghiệp-xây dựng và 21,2 triệu lao động trong khu vực dịch vụ, chiếm khoảng 39% dân số và 73,6% lực lượng lao động xã hội.
[ii] Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2025 là 70%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 27,1% năm 2023 lên 29,2% năm 2025.
[iii] Tổng Liên đoàn phát huy vai trò thành viên Hội đồng Tiền lương quốc gia trong đề xuất thương lượng mức điều chỉnh tiền lương tối thiểu hàng năm phù hợp với tình hình thực tế, hài hòa lợi ích giữa người lao động, doanh nghiệp; Tập trung xây dựng, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Công đoàn (sửa đổi), trình Quốc hội (khóa XV) thông qua tại kỳ họp thứ 8, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho tổ chức Công đoàn Việt Nam trong việc thu hút, tập hợp, bảo vệ quyền lợi người lao động; Tham gia tích cực, chủ động trong quá trình xây dựng, sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Việc làm; tham gia kịp thời, trách nhiệm sửa đổi Hiến pháp 2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; tích cực nghiên cứu, phối hợp đề xuất Chính phủ ban hành Nghị quyết về chính sách, chế độ đối với đối tượng chịu sự tác động do thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp theo Kết luận 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong đó có đối tượng là cán bộ công đoàn…
[iv] Chương trình Thủ tướng Chính phủ đối thoại với công nhân, các chương trình đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri chuyên đề với công nhân, lao động
[v] Điển hình như “Tết Sum vầy”, “Chợ Tết Công đoàn”, “Mái ấm Công đoàn”, “Cảm ơn người lao động”, “Phiên chợ công nhân”, “Siêu thị công nhân”, “Ngày hội công nhân – Phiên chợ nghĩa tình”, “Bữa ăn ca”, việc cho vay, tiếp cận tín dụng thông qua kênh của Công đoàn…
[vi] Qua 2 năm tổ chức, đã có hơn 20 nghìn công đoàn cơ sở tổ chức “Bữa cơm Công đoàn” với sự tham dự của hơn 5 triệu đoàn viên.
[vii] Có hơn 15 ngàn công đoàn cơ sở tổ chức bữa cơm tất niên công đoàn trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
[viii] Luật Đất đai (sửa đổi), nghị định hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản...
[ix] Đã tổ chức khởi công 3 dự án nhà ở xã hội cho công nhân, lao động thuê tại tỉnh Đồng Tháp (Tiền Giang cũ), Bắc Ninh (Bắc Giang cũ), Vĩnh Long.
[x] Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Liên đoàn tổ chức Hội nghị toàn quốc biểu dương 95 công nhân lao động tiêu biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ I, năm 2025 với chủ đề “Gương sáng công nhân tiền phong”, Diễn đàn “Phấn đấu để xứng đáng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”.
[xi] Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 – 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025) các cấp công đoàn tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực, hiệu quả mang đặc trưng, dấu ấn riêng của công nhân, công đoàn. Nổi bật là Chương trình “Ngày hội Lao động sáng tạo” được tổ chức sâu rộng trong các cấp công đoàn. “Ngày hội Lao động sáng tạo” cấp Tổng Liên đoàn với chuổi hoạt động ý nghĩa: Triển lãm “Hành trình sáng tạo – Khát vọng vươn mình”; Diễn đàn “Thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của người lao động”; Trao tặng Giải thưởng “Doanh nghiệp tiêu biểu vì người lao động” đã tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cán bộ, đoàn viên, người lao động và dư luận xã hội.
[xii] Tổ chức sinh hoạt chính trị sâu rộng nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2024), Tổng Liên đoàn tổ chức Lễ trao tặng “Giải thưởng Nguyễn Văn Linh” lần thứ IV cho 10 cán bộ công đoàn xuất sắc tiêu biểu; biểu dương 95 chủ tịch công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn cơ sở xuất sắc tiêu biểu toàn quốc lần thứ V, năm 2024; đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất; tổ chức Cuộc thi tìm hiểu “Nghị quyết Đại hội Công đoàn và hành động của đoàn viên, người lao động” theo hình thức trực tuyến và sân khấu hóa, kết hợp tìm hiểu truyền thống 95 năm Công đoàn Việt Nam; biểu dương 95 gương “Cán bộ nữ công cơ sở tiêu biểu xuất sắc lần thứ 3”; phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”…
[xiii] Có khoảng 700 nghìn sản phẩm nội dung truyền thông; có khoảng 361 triệu lượt truy cập qua cổng thông tin và trang thông tin điện tử; có hơn 35,7 triệu lượt xem, tương tác trên mạng xã hội.
[xiv] Số lượng cán bộ công đoàn chuyên trách giảm 2.157 người, đến nay còn 3.076 người; có hơn 1.300 cán bộ công đoàn được giải quyết chế độ với tổng số tiền chi trả là hơn 1.700 tỷ đồng.
[xv] Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 10/01/2026 của Ban Bí thư.
[xvi] Nhiều công đoàn cơ sở đã thương lượng, đối thoại với người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động được tham gia học tập, tổ chức đào tạo và đào tạo lại cho người lao động; xây dựng quỹ khuyến học, các “Điểm học tập, sinh hoạt văn hóa”, tủ sách học tập; tổ chức phong trào luyện ôn lý thuyết, luyện tay nghề, thi thợ giỏi.
[xvii] Chỉ tiêu về công tác kiểm tra tài chính và chỉ tiêu về phát triển đoàn viên.
[xviii] Đổi mới, xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế tư nhân; hội nhập quốc tế…
Xem bản gốc tại đây
- Thống nhất thông qua các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam
- Thảo luận 14 nội dung, trong đó nhiều nội dung liên quan Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam
- Cho ý kiến nhiều nội dung quan trọng liên quan tới Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam
- Xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu trong Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam