Càng thêm khẳng định giá trị, ý nghĩa của Quốc khánh 2.9
Quốc khánh 2.9.1945 là sự kiện trọng đại, đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam), mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do. Tuy nhiên, trên không gian mạng, các thế lực thù địch vẫn ra sức bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa của sự kiện này, nhằm gây hoang mang trong dư luận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Luận điệu mang tâm địa xấu xa
Dịp Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19.8.1945 - 19.8.2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2.9.1945-2.9.2025) các thế lực thù địch càng gia tăng phát tán các luận điệu chống phá. Chúng xuyên tạc rằng “ngày 2.9 không có ý nghĩa gì” vì nó không thực sự mang lại tự do, độc lập cho Nhân dân Việt Nam. Chúng cho rằng sự kiện này dẫn đến chiến tranh và đau khổ thay vì hòa bình vì sau đó nhân dân Việt Nam còn phải hy sinh thêm 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và 21 năm kháng chiến chống Mỹ...
Mục đích của các luận điệu ấy không gì khác là phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Quốc khánh 2.9, gây mất niềm tin trong quần chúng nhân dân vào lịch sử dân tộc và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc; phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động.
Ý nghĩa của Quốc khánh 2.9 là không thể phủ nhận
Sự thật đã khẳng định rõ ý nghĩa lịch sử to lớn của sự kiện Quốc khánh 2.9 đối với dân tộc Việt Nam. Trước hết, cần phải thấy, Quốc khánh 2.9 là kết quả tất yếu của cuộc Cách mạng Tháng Tám do Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo. Ngay từ khi ra đời (3.2.1930), Đảng ta đã nắm vai trò tiên phong, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng lực lượng, chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa. Con đường cứu nước đúng hướng đã được Đảng ta xác định, đó là: Giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, liên kết phong trào dân tộc với phong trào công nhân... Trong từng giai đoạn, Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề ra và điều chỉnh chủ trương chiến lược phù hợp. Từ Mặt trận dân tộc thống nhất đến đấu tranh đòi dân sinh dân chủ và phát động khởi nghĩa vũ trang. Năm 1941, Đảng ta đã quyết định thành lập và lãnh đạo Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa cách mạng. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh (8/1945), Đảng ta kịp thời nắm bắt thời cơ lịch sử phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước với khẩu hiệu: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sẽ không có sự thống nhất, không có sự chuẩn bị chu đáo, và không thể chớp thời cơ giành chính quyền một cách mau lẹ như vậy.
Sự kiện Quốc khánh 2.9 đã khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam sau gần một thế kỷ bị đô hộ bởi thực dân, phong kiến. Mở ra thời kỳ nhân dân làm chủ, xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đây là bước ngoặt lớn trong tiến trình cách mạng Việt Nam và là sự kiện có tầm vóc quốc tế, truyền cảm hứng cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nhiều nước thuộc địa khác.
Kháng chiến sau cách mạng là tất yếu
Sau khi ra đời, Nhà nước Việt Nam phải đối mặt với tình hình “thù trong, giặc ngoài” hết sức phức tạp, khó khăn chồng chất như “ngàn cân treo sợi tóc”. Đặc biệt, thực dân Pháp mưu toan tìm cách khôi phục lại ách thống trị của mình. Trong bối cảnh đó, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã dẫn dắt dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện” kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược và kết thúc bằng Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (21.7.1954). Mặc dù Hội nghị Giơ-ne-vơ đã thừa nhận về nguyên tắc sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tuy nhiên, với ý đồ can thiệp và xâm lược, Mỹ đã không ký tuyên bố cuối cùng của hội nghị và nhảy vào miền Nam Việt Nam thay chân thực dân Pháp, xâm chiếm miền Nam bằng chính sách thực dân mới với chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam - Bắc với đường giới tuyến quân sự là vĩ tuyến 17.
Từ đây, cùng một lúc, dân tộc ta phải tiến hành hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền. Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, còn ở miền Nam tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân, trọng tâm là đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mặc dù gặp vô vàn khó khăn, gian khổ, chịu nhiều hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam lại vượt lên giành nhiều thắng lợi. Đặc biệt ở miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Như vậy, sau sự kiện Quốc khánh 2.9, Nhân dân Việt Nam phải tiến hành chiến tranh là do bối cảnh lịch sử phức tạp lúc bấy giờ gây nên. Thời thế buộc Nhân dân Việt Nam phải đứng lên để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền độc lập dân tộc là tất yếu. Thắng lợi mà quân và dân ta giành qua hai cuộc kháng chiến càng thêm khẳng định tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9. Mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị của sự kiện lịch sử này đều là sai trái, phản động, cần kiên quyết đấu tranh và loại bỏ.
Đọc bản gốc: tại đây