Dự báo sớm nguồn nước để không bị động trong sản xuất nông nghiệp
Nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện cơ bản được bảo đảm, song nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra ở một số khu vực.
Trao đổi với Lao Động, ông Nguyễn Mạnh Hùng - Trưởng phòng Quản lý vận hành công trình và tưới tiêu - Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, việc dự báo sớm, xây dựng kịch bản nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp theo từng vùng, từng vụ sản xuất là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro.
Thưa ông, ông đánh giá thế nào về tình hình nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện nay?
- Từ đầu năm đến nay, tình hình nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp nhìn chung vẫn nằm trong khả năng kiểm soát của hệ thống thủy lợi. Nhiều hồ chứa thủy lợi đang có dung tích tương đối khả quan so với trung bình nhiều năm.
Cụ thể, khu vực Bắc Bộ hiện đạt khoảng 65,4% dung tích thiết kế, cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 7%. Bắc Trung Bộ đạt khoảng 54%, cao hơn trung bình nhiều năm 3%; Duyên hải Nam Trung Bộ đạt 58%, cũng cao hơn khoảng 3%. Đông Nam Bộ đạt 49,3%, cao hơn trung bình nhiều năm 10,5%. Đây là những tín hiệu tích cực, tạo điều kiện để các địa phương chủ động hơn trong điều hành cấp nước.
Tuy nhiên, nguồn nước có sự phân hóa rõ giữa các vùng, các lưu vực và từng công trình. Có nơi hồ chứa tương đối tốt, nhưng cũng có nơi phụ thuộc nhiều vào mưa, ao hồ nhỏ, hoặc nằm xa công trình thủy lợi nên vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ.


Những khu vực nào cần được theo dõi sát trong vụ Hè Thu năm 2026, thưa ông?
- Hiện nay, chỉ còn khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ còn trong mùa khô và sẽ tiếp tục kéo dài đến tháng 8, 9 nên nguồn nước ở đây phụ thuộc chính từ công trình thủy lợi cung cấp.
Vụ Hè Thu thường là thời điểm nhu cầu nước cho sản xuất tăng, trong khi thời tiết nắng nóng kéo dài có thể làm nguồn nước suy giảm nhanh. Theo nhận định hiện nay, Bắc Trung Bộ là khu vực cần được theo dõi sát, đặc biệt tại Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Dự kiến có khoảng 5.200-8.200 héc ta gieo trồng tại khu vực này có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi hạn hán, thiếu nước.
Tại Duyên hải Nam Trung Bộ, một số công trình cũng cần điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp với khả năng cấp nước. Tổng diện tích gieo trồng có nguy cơ bị ảnh hưởng khoảng hơn 3.300 héc ta, tập trung tại Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Đắk Lắk và Đà Nẵng. Riêng Đà Nẵng còn chịu tác động từ xâm nhập mặn trên sông Vĩnh Điện.
Thưa ông, trong bối cảnh El Nino được dự báo có xu hướng tăng dần, yếu tố này có thể tác động thế nào đến nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp?
- Hiện nay, chúng ta chưa thể khẳng định chính xác mức độ tác động của El Nino đến nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tác động thực tế còn phụ thuộc rất lớn vào diễn biến và tổng lượng mưa trong mùa mưa năm 2026, lượng nước trữ được trong các hồ chứa, cũng như dòng chảy về các vùng sản xuất, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Điều đáng lưu ý là nếu mưa thiếu hụt, các hồ chứa không tích đủ nước trước mùa khô thì nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn trong mùa khô 2026-2027 sẽ tăng lên. Vì vậy, thay vì chỉ chờ diễn biến thời tiết, ngành thủy lợi đang chủ động xây dựng các kịch bản nguồn nước theo từng vùng, từng tỉnh và từng vụ sản xuất và đang tăng cường thực hiện các hành động “trước thiên tai” để tăng tính chủ động phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, đặc biệt là công tác dự báo, tích trữ nước từ mùa mưa,…
Trên cơ sở đó, địa phương có thể điều chỉnh kế hoạch gieo trồng ngay từ sớm, bố trí lịch thời vụ phù hợp với khả năng cung cấp nước từ công trình thủy lợi và ưu tiên cấp nước cho những đối tượng ưu tiên như sinh hoạt, chăn nuôi, cây trồng lâu năm,.. khi xảy ra hạn hán, thiếu nước. Đây là cách tiếp cận chủ động để giảm thiểu rủi ro, nhất là với những vùng thường xuyên chịu áp lực thiếu nước vào cuối vụ hoặc trong mùa khô.


Vậy công tác dự báo nguồn nước đang được triển khai như thế nào để hỗ trợ địa phương?
- Chúng tôi xác định dự báo nguồn nước là công việc liên tục cần phải thực hiện, không chỉ là dự báo chung cho cả vùng, mà phải xây dựng kịch bản cụ thể theo từng tỉnh, từng hệ thống thủy lợi theo từng vụ sản xuất. Kịch bản được xây dựng trên cơ sở dự báo mưa, lượng nước trữ trong hồ chứa đầu vụ, khả năng cấp nước của từng hệ thống và mức độ rủi ro hạn hán, thiếu nước.
Từ các kịch bản đó, địa phương có căn cứ để quyết định lịch xuống giống, diện tích gieo trồng, cơ cấu cây trồng và phương án phân phối nước. Nơi bảo đảm đủ nước thì tổ chức sản xuất bình thường. Nơi không bảo đảm nguồn nước thì phải giãn, lùi thời vụ hoặc chuyển đổi sang cây trồng sử dụng ít nước hơn.
Cách làm này giúp công tác chỉ đạo điều hành chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa. Đây cũng là yêu cầu rất quan trọng trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp ngày càng chịu tác động lớn của biến động thời tiết, nguồn nước.
Cảm ơn ông về những thông tin hữu ích!
Đọc bản gốc tại đây.