Nguồn lực trong dân đang chuyển sang tích trữ vàng, bất động sản
Đại biểu cho rằng, nguồn lực trong dân không được đưa vào nền kinh tế mà chuyển sang tích trữ vàng, đầu tư bất động sản.
Sáng 18.11, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý nợ công.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Văn Thân (Đoàn Hưng Yên) cho biết, hiện nay, Quốc hội đã thông qua quy định cho phép vay ngoại tệ nước ngoài với lãi suất 6% trở xuống.
Trong khi đó, nguồn vốn trong dân cũng chủ yếu là ngoại tệ, vàng, đá quý, thực tế có mức vốn cao hơn rất nhiều so với ngoại tệ nước ngoài.
Tuy nhiên, do huy động nguồn vốn trong dân còn hạn chế, dẫn đến nguồn lực trong dân không được đưa vào nền kinh tế mà chuyển sang tích trữ vàng, ngoại tệ hoặc đầu tư bất động sản.
Điều này khiến thị trường vàng và thị trường bất động sản biến động bất thường, thiếu ổn định. Đại biểu đề nghị Chính phủ cần sớm có đánh giá và giải pháp để xử lý vấn đề này.
Vấn đề khác được đại biểu đề cập là đầu tư của các tập đoàn nước ngoài, công ty nước ngoài và vay ODA, vay có điều kiện. Đại biểu đề nghị, nên chăng Chính phủ cần công khai trước Quốc hội là vay bao nhiêu, kế hoạch vay như thế nào, lãi suất bao nhiêu, có nợ quá hạn hay không, nếu nợ quá hạn là bao nhiêu?
Góp ý về giải ngân đầu tư công và trách nhiệm của các cơ quan liên quan, đại biểu nhấn mạnh: Năm nào Thủ tướng Chính phủ cũng liên tục kêu gọi đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công.
Việc chậm giải ngân dẫn đến vốn bị đọng lại, không phát huy hiệu quả, đồng thời làm phát sinh chi phí lãi vay - một sự lãng phí rất lớn.
Đại biểu đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm của từng cơ quan trong công tác giải ngân, quản lý dự án và xử lý khiếu kiện phát sinh; đồng thời có giải pháp khắc phục triệt để tình trạng lãng phí đang gây nhiều bức xúc hiện nay.

Về nguyên tắc quản lý nợ công tại Điều 5, dự thảo bổ sung khoản 6 Điều 5 quy định: “Mọi nghĩa vụ nợ của Chính phủ được đối xử bình đẳng”.
Đại biểu Nguyễn Tâm Hùng (Đoàn TPHCM) hoàn toàn đồng tình với tinh thần minh bạch và bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.
Tuy nhiên, đề nghị cân nhắc quy định cụ thể hơn phạm vi “bình đẳng”, vì trên thực tế, có những khoản nợ mang tính chất bắt buộc, có điều kiện ưu đãi, hoặc có bảo lãnh của Chính phủ, nên việc xếp ngang về mức độ ưu tiên thanh toán cần có phân loại rõ ràng.
Việc bổ sung hướng dẫn chi tiết sẽ tránh xung đột khi xử lý các khoản nợ đến hạn trong điều kiện thị trường biến động.
Về cơ chế cho vay lại qua ngân hàng thương mại tại Điều 35, đại biểu đồng tình việc trao thêm thẩm quyền cho ngân hàng thương mại trong hoạt động cho vay lại.
Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 35, dự thảo yêu cầu ngân hàng thương mại phải có xếp hạng tín nhiệm quốc tế ngang bằng hoặc thấp hơn một bậc so với mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Quy định này là cần thiết, nhưng nên xem xét tính khả thi, bởi hiện nay, không có nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam được xếp hạng theo chuẩn quốc tế. Nếu giữ nguyên, nguy cơ thiếu đơn vị được ủy quyền là rất cao. Đề nghị cân nhắc nghiên cứu bổ sung lộ trình áp dụng hoặc cơ chế đánh giá thay thế phù hợp hơn.
Đọc bản gốc tại đây