Phát triển cảng xanh vừa là yêu cầu, vừa là động lực
Trong bối cảnh toàn cầu chuyển dịch sang nền kinh tế xanh, các doanh nghiệp trong lĩnh vực cảng biển nhận thức đây không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Doanh nghiệp Việt sẵn sàng chuyển đổi cảng xanh
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, cảng biển được định vị là đầu mối chiến lược trong mạng lưới logistics, đảm nhiệm khoảng 90% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Với vai trò đó, việc phát triển hệ thống cảng biển hiện đại, xanh và thông minh là xu thế tất yếu để tăng hiệu quả vận hành, giảm chi phí logistics và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang nhấn mạnh, cảng xanh không chỉ là yêu cầu của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mà còn là xu hướng tất yếu từ chính thị trường. Nếu doanh nghiệp không chuyển đổi kịp, sẽ bị loại khỏi chuỗi cung ứng quốc tế.
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp lớn trong nước đã bắt đầu vào cuộc mạnh mẽ. Ông Trần Văn Kỳ - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hateco - cho biết: “Ngay từ đầu, chúng tôi đã thiết kế mô hình cảng hiện đại gắn với tiêu chí cảng xanh, từ việc áp dụng năng lượng mặt trời, quản lý bằng phần mềm số hóa, đến việc dự kiến lắp đặt hệ thống cấp điện bờ (OPS) cho tàu neo đậu. Đây là hướng đi đầu tư ban đầu cao nhưng tiết kiệm vận hành lâu dài, đồng thời là ‘giấy thông hành’ để tham gia chuỗi logistics toàn cầu”.
Không chỉ doanh nghiệp cảng, các đơn vị tư vấn, thiết kế, thi công hạ tầng cũng sẵn sàng đồng hành trong chuyển đổi.
Ông Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty CTCP Tư vấn Thiết kế Cảng - Kỹ thuật biển (Portcoast) thông tin hơn chục năm trước, hệ thống hạ tầng cảng biển của Việt Nam rất lạc hậu. Các thiết bị chủ yếu sử dụng nhiên liệu hóa thạch như xăng, dầu. Tuy nhiên, từ khi Việt nam cam kết chuyển đổi xanh, các doanh nghiệp dần thay đổi nhận thức vấn đề này.
Chuyển đổi cảng xanh gồm có 3 giai đoạn. Thứ nhất là giai đoạn nhận thức, cam kết của chủ doanh nghiệp về chuyển đổi cảng xanh. Thứ 2 là quá trình thực hiện của chủ doanh nghiệp. Thứ 3 là kiểm chứng tính hiệu quả trong thực tiễn.
Hiện nay, Việt Nam thực hiện rất tốt giai đoạn đầu. Hầu hết các doanh nghiệp đã nhận thức và cam kết về chuyển đổi xanh.

Những rào cản và giải pháp thúc đẩy chuyển đổi xanh
Ông Phạm Anh Tuấn cho rằng, mặc dù các doanh nghiệp nhận thức, cam kết và mong muốn chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, việc chuyển đổi hạ tầng cảng biển từ việc dùng nhiên liệu hóa thạch sang nhiên liệu sạch như điện gặp nhiều khó khăn. Một trong những rào cản lớn nhất là nguồn lực tài chính.
Để giải quyết vấn đề này, các doanh nghiệp trong lĩnh vực phát triển cảng mong muốn nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng cần thêm chính sách ưu đãi vay vốn tín dụng riêng cho chuyển đổi xanh.
Thống kê từ Cục Hàng hải Việt Nam cho thấy, hiện cả nước có 34 cảng biển chính thức đang hoạt động, song số lượng cảng thực sự đáp ứng các tiêu chí cảng xanh còn rất hạn chế. Hệ thống thiết bị vẫn chủ yếu sử dụng nhiên liệu hóa thạch; tỉ lệ ứng dụng năng lượng tái tạo, tự động hóa và quản lý số còn thấp.
Nhiều doanh nghiệp đề xuất Nhà nước nên ban hành chi tiết các tiêu chí cảng xanh phù hợp với điều kiện Việt Nam, có chính sách ưu đãi thuế đồng thời cần có cơ chế khuyến khích chuyển đổi thông qua chấm điểm xếp hạng, đưa vào tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư.
Đáng chú ý, trong Đề án phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2035, Chính phủ cũng đặt mục tiêu “từng bước hình thành hệ thống cảng xanh, giảm phát thải từ hoạt động logistics, nâng cao chỉ số phát triển bền vững”.
Do đó, cảng xanh không chỉ là một phần trong chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu, mà còn là cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam có trách nhiệm với môi trường. Mỗi bước chuyển đổi, dù nhỏ, đều là bước tiến quan trọng trong hành trình hướng đến nền kinh tế xanh.
Đọc bản gốc tại đây