Quy định về tạm ứng tiền lương cho người lao động trước Tết 2026
Theo quy định hiện hành của Bộ luật Lao động, việc tạm ứng tiền lươngtrước Tết có cơ sở pháp lý nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo luật định.
Theo Điều 101 Bộ luật Lao động 2019, người lao động được quyền tạm ứng tiền lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động và không bị tính lãi.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với thời gian nghỉ để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 1 tuần trở lên, nhưng không quá 1 tháng tiền lương theo hợp đồng; người lao động phải hoàn trả khoản tiền đã ứng. Trường hợp nhập ngũ theo Luật Nghĩa vụ quân sự thì không áp dụng tạm ứng tiền lương.
Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Tạm ứng tiền lương được hiểu là việc người lao động nhận trước một phần hoặc toàn bộ tiền lương mà mình sẽ được trả trong kỳ lương tiếp theo. Đây không phải là khoản vay hay khoản cho mượn, do đó người lao động không phải chịu bất kỳ loại lãi suất hay chi phí phát sinh nào.
Như vậy, trong dịp Tết, nếu có nhu cầu chi tiêu sớm cho sinh hoạt, đi lại, mua sắm hay hỗ trợ gia đình, người lao động hoàn toàn có thể đề xuất với người sử dụng lao động về việc tạm ứng tiền lương, trên cơ sở hai bên cùng thống nhất.
Những trường hợp pháp luật cho phép tạm ứng tiền lương
Bộ luật Lao động 2019 quy định một số trường hợp cụ thể người lao động được tạm ứng tiền lương, bao gồm:
Tạm ứng theo thỏa thuận: Người lao động và người sử dụng lao động có thể chủ động thỏa thuận về việc tạm ứng tiền lương, thời điểm tạm ứng và phương thức hoàn trả. Pháp luật không giới hạn mục đích tạm ứng trong trường hợp này, vì vậy việc tạm ứng để chi tiêu dịp Tết là hoàn toàn phù hợp.
Nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân: Trường hợp người lao động phải tạm thời nghỉ việc từ 1 tuần trở lên để thực hiện nghĩa vụ công dân, họ được tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày nghỉ, nhưng không quá 1 tháng tiền lương và có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền đã ứng.
Nghỉ hằng năm chưa đến kỳ trả lương: Khi người lao động nghỉ phép năm mà chưa đến kỳ trả lương, họ được tạm ứng ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Bị tạm đình chỉ công việc: Người lao động bị tạm đình chỉ công việc được tạm ứng 50% tiền lương trước khi có kết luận chính thức.
Mức tiền tạm ứng lương được quy định
Căn cứ các điều khoản liên quan tại Điều 97, Điều 101 và Điều 128 Bộ luật Lao động 2019, mức tiền tạm ứng lương được xác định tùy theo từng trường hợp cụ thể.
Đối với các trường hợp được pháp luật quy định rõ, mức tạm ứng được giới hạn như sau:
Tối đa 1 tháng tiền lương nếu người lao động nghỉ để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 1 tuần trở lên.
Ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ khi người lao động nghỉ hằng năm.
50% tiền lương trong thời gian người lao động bị tạm đình chỉ công việc.
Riêng đối với trường hợp tạm ứng theo thỏa thuận, pháp luật không quy định mức trần cụ thể. Điều này đồng nghĩa với việc mức tạm ứng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thống nhất giữa người lao động và người sử dụng lao động, dựa trên điều kiện tài chính của doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của người lao động.
Đọc bản gốc tại đây