Việt Nam đặt mục tiêu có 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị của khu vực FDI và hình thành từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I cho các tập đoàn đa quốc gia.Ảnh: Hải Nguyễn
Việt Nam đặt mục tiêu có 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị của khu vực FDI và hình thành từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I cho các tập đoàn đa quốc gia.Ảnh: Hải Nguyễn

Thu hút đầu tư nước ngoài để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ

MINH QUANG (báo lao động) 01/07/2026 09:25 (GMT+7)

Các nội dung tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp.

Cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam

Trao đổi với Lao Động ngay sau khi Hội nghị kết thúc, ông Nguyễn Vân - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ Thành phố Hà Nội (HANSIBA) nhận định: “Đối với cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, Nghị quyết 10-NQ/TW là một định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chúng tôi rất tâm đắc với quan điểm được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị, đó là thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điều này mở ra cơ hội lớn để các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp Hà Nội, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu”.

Theo ông Vân, mặc dù Nghị quyết tập trung vào thu hút nguồn vốn doanh nghiệp nước ngoài nhưng doanh nghiệp Việt Nam nhìn thấy nhiều cơ hội. “Chúng tôi đánh giá rất cao định hướng chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng môi trường đầu tư. Đây chính là những yếu tố quyết định để Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thu hút được dòng vốn FDI thế hệ mới, có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng lan tỏa mạnh mẽ.

Đối với Thủ đô Hà Nội, những định hướng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được nêu tại Hội nghị cũng mở ra nhiều cơ hội mới cho cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Chúng tôi kỳ vọng sẽ có thêm nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia, tăng cường chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển năng lực sản xuất trong nước.

Để các doanh nghiệp quốc nội, đã và sẽ tham gia trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao và công nghiệp thế hệ mới. Trong đó, có nhiều doanh nghiệp thành viên của HANSIBA. Đã có những bước hợp tác cụ thể với đối tác FDI, điển hình ngay tại Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội (Hanssip Hà Nội), do Công ty N&G Corp thành viên Tập đoàn N&G Việt Nam phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, theo chuẩn ESG và 17 tiêu chí phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.

Với Nghị quyết mới, chúng tôi có thêm điều kiện phát triển một cách cụ thể, về nguồn lực tài chính, đất đai nhà xưởng, nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu. Từ đó tạo hiệu quả cụ thể, tham gia sâu vào chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu, với các doanh nghiệp FDI đã phát triển nhiều tổ hợp nhà máy quy mô tại khu công nghiệp này, đóng góp hàng trăm triệu USD vốn đầu tư ban đầu với thủ đô Hà Nội”- ông Vân chia sẻ.

Kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia

Tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết: “Sau gần 40 năm đổi mới, chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực, thu hút gần 550 tỉ USD vốn đăng ký, với hơn 46.000 dự án còn hiệu lực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới. Có thể khẳng định, chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng trong gần bốn thập kỷ qua là hoàn toàn đúng đắn và đạt được những kết quả rất quan trọng”.

Tuy nhiên với yêu cầu mới, để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần một tư duy phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

"Nếu gần bốn mươi năm qua, nhiệm vụ trọng tâm là mở cửa để thu hút các nguồn lực quốc tế, thì trong giai đoạn mới, nhiệm vụ trọng tâm là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia"- Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh.

Với 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển của Nghị quyết 10-NQ/TW, mục tiêu được đặt ra rất cụ thể: Đến năm 2030, thu hút 200-300 tỉ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỉ USD; Nâng cao chất lượng dòng vốn với 75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm năng về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; Tỉ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 40-50%. Có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Mục tiêu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân; Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.

“Ngành công nghiệp hỗ trợ của chúng tôi rất quan tâm đến mục tiêu tới năm 2030 khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều mà cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ kỳ vọng hiện nay không chỉ là cơ hội từ dòng vốn FDI chất lượng cao mà còn là những chính sách hỗ trợ cụ thể và một “bệ phóng” đủ mạnh từ Nhà nước để doanh nghiệp trong nước có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Điều quan trọng hơn là cần tạo điều kiện để doanh nghiệp CNHT Việt Nam đủ sức trở thành đối tác bình đẳng của các doanh nghiệp FDI, thay vì chỉ chờ được “kéo vào chuỗi”. Muốn vậy, doanh nghiệp trong nước phải được hỗ trợ để nâng cao năng lực nội tại, còn các chính sách cần hướng tới việc thúc đẩy liên kết thực chất giữa hai khu vực doanh nghiệp”, ông Nguyễn Vân bày tỏ.

Trao đổi với Lao Động, PGS.TS Lê Quốc Lý - nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân tích, nếu giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới tập trung vào việc mở cửa để thu hút các nguồn lực bên ngoài nhằm khắc phục tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ và thiếu kinh nghiệm quản trị, thì ở giai đoạn phát triển mới, yêu cầu không còn là thu hút được bao nhiêu vốn đầu tư, mà là chuyển hóa được bao nhiêu giá trị từ dòng vốn đó thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

“Đó là tư duy phát triển đặt trọng tâm vào chất lượng tăng trưởng, năng lực nội sinh, đổi mới sáng tạo và tự chủ chiến lược. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu, một nền kinh tế chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hoặc ưu đãi đầu tư sẽ khó duy trì sức cạnh tranh lâu dài. Vì vậy, phát triển khu vực FDI phải hướng tới mục tiêu hình thành năng lực nội sinh và gia tăng giá trị của nền kinh tế Việt Nam" - PGS.TS Lê Quốc Lý nói. VƯƠNG TRẦN

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục