Chuyển đổi xanh có thể tạo ra 25 triệu việc làm mới toàn cầu đến năm 2030
Chuyển đổi xanh không đồng nghĩa với mất việc làm. Nếu được thiết kế đúng, chuyển đổi xanh có thể tạo ra 25 triệu việc làm mới toàn cầu đến năm 2030.
Chuyển đổi xanh không đồng nghĩa với mất việc làm
Phát biểu tại hội thảo Phát triển nhân lực - Điều kiện tiên quyết cho kinh tế số và Tăng trưởng xanh do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Báo Lao Động thực hiện - diễn ra chiều 11.8, ông Nguyễn Khánh Long - Phó Cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Nội vụ - cho biết, tại Hội nghị Lao động Quốc tế lần thứ 113 (tháng 6.2025), Tổng Giám đốc ILO Gilbert F. Houngbo nhấn mạnh rằng: "Chuyển đổi xanh không đồng nghĩa với mất việc làm. Ngược lại, đây là cơ hội lớn để tạo ra những ngành nghề mới, việc làm xanh, bền vững và mang tính bao trùm".
"Nếu được thiết kế đúng, chuyển đổi xanh có thể tạo ra 25 triệu việc làm mới trên toàn cầu đến năm 2030, đồng thời giảm thiểu nguy cơ mất việc làm do tác động của stress nhiệt độ, thiên tai, sự sắp xếp lại chuỗi cung ứng", theo báo cáo chung ILO - IRENA - UNEP.
Tăng trưởng xanh cũng yêu cầu một cấu trúc nhân lực mới: lao động có kỹ năng xanh, am hiểu về quy chuẩn môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng tái tạo.
Tại Việt Nam, chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 1658 ngày 1.10.2021, hệ sinh thái năng lượng tái tạo, nông nghiệp hữu cơ, logistics carbon thấp... đang mở ra hướng nghề mới.

Tuy nhiên, báo cáo gần đây của ADB và ILO cho thấy, Việt Nam đang đối mặt nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng lao động đã qua đào tạo về kỹ năng xanh, đặc biệt trong nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này yêu cầu chúng ta cần đầu tư cho đào tạo lại, đào tạo chuyên sâu theo nhu cầu chuyển đổi xanh và chính sách việc làm bao trùm.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của chuyển đổi số và các cam kết về tăng trưởng xanh, nguồn nhân lực được xác định là yếu tố then chốt quyết định khả năng thích ứng và phát triển bền vững của mỗi quốc gia bởi một số lý do sau:
Nguồn nhân lực là động lực của tăng trưởng bền vững: Tăng trưởng kinh tế truyền thống dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ đang dần tới hạn. Trong khi đó, các mô hình phát triển bền vững ngày càng đòi hỏi sự đóng góp của lực lượng lao động có trình độ cao, có khả năng tiếp cận công nghệ mới, tư duy đổi mới sáng tạo và tuân thủ các tiêu chuẩn phát triển xanh.
Đến năm 2024, Việt Nam có khoảng 38 triệu lao động chưa qua đào tạo từ sơ cấp trở lên; tỉ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ ở Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 28,3%, thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của các quốc gia trong khu vực ASEAN. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Là trung tâm của chuyển đổi số: Chuyển đổi số chỉ thành công khi có sự chuyển đổi đồng bộ về kỹ năng của lực lượng lao động. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), có tới 44% kỹ năng của người lao động hiện nay sẽ trở nên lỗi thời trong vòng 5 năm tới nếu không được đào tạo lại hoặc nâng cấp.
Tuy nhiên, chỉ khoảng 35% người lao động Việt Nam tự đánh giá đủ kỹ năng số để đáp ứng công việc trong tương lai (Microsoft và LinkedIn, 2024). Đây là khoảng trống lớn cần được lấp đầy thông qua hệ thống giáo dục, đào tạo nghề và chính sách phát triển kỹ năng suốt đời.
Nguồn nhân lực là nền tảng của tăng trưởng xanh: Hiện việc làm xanh mới chiếm khoảng 3,6% tổng số việc làm nhưng hơn 40% việc làm có khả năng chuyển đổi nếu được đào tạo phù hợp (World Bank, ILO).
Đây là dư địa lớn để gắn chính sách việc làm với mục tiêu môi trường. Xu hướng tuyển dụng “Nguồn nhân lực xanh” - cốt lõi của việc làm xanh, góp phần vào tăng trưởng xanh đang ngày càng gia tăng trên thế giới...
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ước tính, đến năm 2030, quá trình chuyển đổi năng lượng bền vững trên toàn cầu có thể tạo ra 25 triệu việc làm, riêng khu vực châu Á-Thái Bình Dương có thể tạo ra 14,2 triệu việc làm xanh nếu các quốc gia này đầu tư mạnh mẽ vào các vấn đề môi trường.
Tại Việt Nam, dù mới ở giai đoạn đầu trong chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, nhưng các chuyên gia nhận định xu hướng việc làm xanh đang được nhiều doanh nghiệp chú ý trong công tác tuyển dụng.
Lợi thế cạnh tranh quốc gia: Trong kỷ nguyên hậu tài nguyên và nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực trở thành yếu tố nội sinh quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng. Không có nguồn nhân lực chất lượng, mọi chính sách, mọi công nghệ và mọi nguồn vốn đều không thể phát huy hiệu quả tối đa.
Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, quốc gia nào sở hữu lực lượng lao động có năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và thích ứng nhanh sẽ nắm lợi thế. Việt Nam, với dân số trẻ và tỉ lệ người trong độ tuổi lao động cao, có tiềm năng rất lớn nếu có chiến lược phát triển nhân lực bài bản và đột phá.
Cần ban hành Chiến lược Quốc gia về phát triển nhân lực gắn với chuyển đổi số và tăng trưởng xanh
Về một số kiến nghị, theo ông Long, nhằm bảo đảm cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên chuyển đổi số và tăng trưởng xanh, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp chiến lược sau:
Thứ nhất, cần ban hành Chiến lược Quốc gia về phát triển nhân lực gắn với chuyển đổi số và tăng trưởng xanh, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, tầm nhìn và định hướng thống nhất từ trung ương đến địa phương về phát triển nhân lực đáp ứng đồng thời hai xu thế chủ đạo là chuyển đổi số và tăng trưởng xanh.
Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo lại và nâng cấp kỹ năng cho lực lượng lao động, trong đó xác định trọng tâm vào kỹ năng số (digital skills), từ kỹ năng tin học cơ bản, khai thác dữ liệu, sử dụng AI, đến vận hành hệ thống tự động hóa và kỹ năng xanh (green skills): hiểu biết về tiêu chuẩn môi trường, quy trình sản xuất sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả, quản lý chất thải.
Cần thiết lập chương trình đào tạo quốc gia về kỹ năng số - xanh với lộ trình cụ thể cho từng ngành nghề. Đối với người lao động, đặc biệt là nhóm lao động yếu thế, cần có chính sách hỗ trợ tài chính và chính sách khác để người lao động có thể tham gia đào tạo lại mà không bị gián đoạn thu nhập.
Thứ ba, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân lực số và nhân lực xanh, ứng dụng công nghệ Big Data, AI, và các công cụ phân tích dự báo để bảo đảm tính chính xác và cập nhật với mục tiêu thu thập, cập nhật, và phân tích dữ liệu về số lượng, chất lượng, phân bố, kỹ năng của lực lượng lao động.
Thứ tư, xây dựng chiến lược nhân lực địa phương đặc thù theo nguyên tắc mỗi địa phương căn cứ vào lợi thế so sánh, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển để xây dựng chiến lược nhân lực riêng.
Xem bản gốc tại đây