Tiêu chí hay nhưng giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông rất khó tiếp cận
Đây là ý kiến tại Hội thảo góp ý Dự thảo Thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông, cơ sở giáo dục đại học, dự bị đại học.
Ngày 21.10, Công đoàn Giáo dục Việt Nam và Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam tổ chức hội thảo góp ý các dự thảo: Thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông; Thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên giảng dạy trong cơ sở giáo dục đại học và Thông tư ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trường dự bị đại học.
Theo TS Nguyễn Ngọc Ân - Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Việt Nam, năm 2007, lần đầu tiên Việt Nam ban hành 1 bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên (NNGV), đó là chuẩn NNGV tiểu học. Trên cơ sở đó, năm 2008, ban hành chuẩn NNGV mầm non và năm 2009 chuẩn NNGV THCS và THPT được ban hành. Năm 2018, các chuẩn NNGV được ban hành thay thế với sự hợp nhất của chuẩn NNGV tiểu học, THCS và THPT.

Năm 2025, trước những đòi hỏi mới rất lớn về cơ chế quản lý, quản trị trường học, những quy định mới về đội ngũ đặt ra yêu cầu cần phải thống nhất các chuẩn liên quan, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng 3 dự thảo: Chuẩn NNGV phổ thông, chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học và chuẩn nghề nghiệp giáo viên các trường dự bị đại học.
TS Phạm Tuấn Anh, Phó Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho hay, việc ban hành chuẩn nghề nghiệp nhà giáo theo quy định của Luật Nhà giáo và các luật hiện hành có liên quan sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Bên cạnh đó, chuẩn nghề nghiệp nhà giáo là cơ sở pháp lý để xây dựng, quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo, cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục sử dụng chuẩn nghề nghiệp nhà giáo để tuyển dụng, bố trí, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng đối với nhà giáo; xây dựng và thực hiện chính sách phát triển đội ngũ…
Phát biểu tham luận, PGS, TS. Vũ Trọng Rỹ, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam nêu quan điểm, về nhiệm vụ của giáo viên, quy định nhiệm vụ của giáo viên nên khái quát và thống nhất ở cả ba cấp học, không nên đi theo các đầu việc của giáo viên. Dự thảo hiện nay không thống nhất khung nhiệm vụ của giáo viên các cấp. Sự phân biệt nhiệm vụ của giáo viên (giáo viên chính, giáo viên cao cấp) không rõ nét.

Về chuẩn nghề nghiệp giáo viên nên theo hướng tiếp cận phẩm chất và năng lực. Dự thảo hiện tại có sự trùng lặp và hầu như không thể làm căn cứ đánh giá giáo viên theo chuẩn. Sự khác biệt về chuẩn giữa giáo viên, giáo viên chính, giáo viên cao cấp ở mỗi cấp học không rõ ràng...
NGƯT. TS Nguyễn Thanh Sơn, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý Giáo dục Hà Nội cho hay, giáo viên ở cả 3 cấp hiện nay đều đã và đang phấn đấu đến độ đồng đều về trình độ đào tạo, vì thế không nên đưa ra tiêu chí cho từng cấp học mà chỉ nên đưa ra tiêu chí chung cho giáo viên phổ thông.
Về nhiệm vụ chuyên môn, ở mỗi cấp khác nhau là đối tượng người học và chương trình từng cấp học, còn về nhiệm vụ giảng dạy thì giáo viên ở cấp nào cũng giống nhau.
Trong một số tiêu chí, tiêu chuẩn nên hạn chế đưa ra tiêu chí, tiêu chuẩn định tính vì sẽ rất khó cho công tác chỉ đạo và xếp loại sau này ở các đơn vị.
“Một số tiêu chí trong dự thảo đưa ra thì rất hay nhưng trong thực tế thì giáo viên ở các cơ sở giáo dục phổ thông rất khó có điều kiện tiếp cận. Ví dụ như “Tham gia giám khảo các Hội thi Giáo viên giỏi” hay “Tham gia thẩm định tài liệu, lựa chọn sách giáo khoa” hay “Chủ trì các nội dung bồi dưỡng, hướng dẫn đồng nghiệp”... Nên chăng bỏ các tiêu chí này để vừa dễ cho công tác quản lý, vừa dễ cho sự phấn đấu của anh chị em giáo viên sau này”, ông Nguyễn Thanh Sơn nói.
Cô giáo Nguyễn Thị Thanh Huyền, Tổ trưởng chuyên môn, Trường THPT Kim Ngọc (Phú Thọ) nêu ý kiến, dự thảo nên bổ sung phụ lục dạng bảng tổng hợp chuẩn nghề nghiệp theo từng cấp học và từng hạng (giáo viên - chính - cao cấp), giúp người sử dụng dễ tra cứu. Có thể gộp các tiêu chuẩn trùng nhau (CNTT, ngoại ngữ, đạo đức nghề) thành phần chung, tránh lặp lại trong từng điều.
Về nội dung tiêu chuẩn, giảm tính “thi đua - hành chính”, tập trung vào năng lực nghề nghiệp thực chất (ví dụ, bỏ yêu cầu bắt buộc có danh hiệu chiến sĩ thi đua trong tiêu chí thăng hạng). Quy định rõ mức năng lực ngoại ngữ, CNTT theo khung tham chiếu (ví dụ tương đương B1, có khả năng soạn bài trên LMS, ứng dụng phần mềm quản lý học sinh…).
Với tiêu chí nghiên cứu khoa học, nên phân loại theo cấp độ, tiểu học ưu tiên sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp thực tế; THCS - THPT khuyến khích nghiên cứu chuyên sâu, có thể liên kết các trường, Sở GDĐT…
Xem bản gốc tại đây