Nghị quyết Đại hội công đoàn toàn quốc lần thứ nhất

CTTCĐVN 06/04/2026 10:21 (GMT+7)

Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ I (nhiệm kỳ 1950-1961) diễn ra từ ngày 01 đến 15/01/1950.

NGHỊ QUYẾT CHUNG

I

Sau khi nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng huấn thị của Hồ Chủ tịch và nghị quyết của Đại hội Lao động thế giới ở Milan, của Hội nghị Công đoàn Á, Úc châu, ở Bắc-kinh với những chỉ thị của LHCĐ thế giới, Đại hội công đoàn toàn quốc Việt-nam lần thứ I.

Nhiệt liệt hoan nghênh những lời chỉ dẫn của vị lãnh tụ tối cao của dân tộc và giai cấp là phải làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo của giai cấp công nhân trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc và trong sự nghiệp xây dựng nền dân chủ nhân dân ở Việt-nam.

Nhiệt liệt hoan nghênh đường lối của LHCĐ thế giới trong cuộc tranh đấu chống mọi âm mưu chia rẽ thợ thuyền và gây chiến tranh của phản động quốc tế để bảo vệ nền dân chủ hòa bình cho thế giới.

Đại hội quyết nghị tuân theo huấn thị của Hồ Chủ-tịch, tuân theo nghị quyết của LHCĐ thế giới và ủy cho các cấp bộ Công đoàn phải nỗ lực thực hiện để làm tròn nhiệm vụ lịch sử của giai cấp công nhân Việt-nam.

II

Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ nhất rất hài lòng nhận thấy rằng từ ngày thành lập Tổng Liên đoàn đến nay, các cơ quan chấp hành Tổng Liên đoàn đã hoạt động theo đúng mục đích, tôn chỉ do Hội nghị thành lập Tổng Liên đoàn năm 1946 đã ấn định và đã theo đúng đường lối của Hồ Chủ-tịch và Liên Hiệp Công đoàn Thế giới.

1) Đại hội tán thành sự hoạt động không ngừng của Tổng Liên đoàn đã lãnh đạo lao động Việt-nam tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh chung của lao động thế giới.

- Chống những hành động phản dân chủ và Công đoàn của phản động quốc tế, chống những tàn tích phát xít, quân phiệt, phong kiến ở Tây Ban Nha, Hy Lạp, Nhật, Tây Đức, v.v.

- Ủng hộ các cuộc tranh đấu của lao động thế giới nhất là thợ Pháp, thợ Gia-nã-đại.

- Hoạt động hưởng ứng phong trào tranh đấu cho hòa bình thế giới.

- Đã kịp thời phái đại biểu ra ngoài để hoạt động và tham dự vào các cuộc hội nghị Công đoàn thế giới, thắt chặt mối quan hệ giữa phong trào tranh đấu của lao động thế giới và phong trào chiến đấu của lao động Việt-nam.

- Đại hội khen ngợi Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn và các cấp bộ Công đoàn toàn quốc hăng hái lãnh đạo lao động Việt-nam xung phong chiến đấu đoạt được nhiều thành tích trên các mặt trận: quân sự, chính trị, sản xuất, phá hoại kinh tế địch.

- Giai cấp công nhân đã tham gia đông đảo võ trang tranh đấu trên khắp các mặt trận ở tiền tuyến và ngay trong lòng địch.

Nhờ sự chỉ đạo khéo léo của Tổng liên đoàn mà công nhân Việt-nam đã vượt mọi khó khăn để xây dựng nền kỹ nghệ Quốc phòng, phát triển các ngành công nghệ quốc gia, thực hiện tự túc cho toàn dân, đặt cơ sở nền kỹ nghệ quốc gia sau này.

- Đại hội khen ngợi ghi công các chiến sĩ lao động sản xuất và chiến đấu, các tổ chức Công đoàn và lao động toàn quốc ở trong vùng địch tạm chiếm, đặc biệt là công nhân và Liên hiệp công đoàn Sài Gòn, Chợ Lớn, Công đoàn cao su Nam bộ đã chiến đấu oanh liệt và đã triệt để phá hoại kinh tế địch , đập tan âm mưu dùng chiến tranh nuôi chiến tranh của giặc Pháp.

2) Đại hội hài lòng nhận thấy rằng mặc dầu trong hoàn cảnh khó khăn của kháng chiến, các cơ quan chỉ đạo của Tổng liên đoàn trong mấy năm gần đây đã nỗ lực hoạt động kịp thời để chấn chỉnh tổ chức Công đoàn, thống nhất và phát triển phong trào, làm cho tổ chức của lao động Việt-nam có một cơ sở vững chắc như ngày nay. Những phương pháp cụ thể đã được thi hành để thực hiện một cách có hiệu quả việc cải thiện sinh hoạt cho lao động về tinh thần cũng như về vật chất. Những cuộc thi đua lớn của Tổng liên đoàn đề ra đã đẩy mạnh phong trào công nhân tiến bộ về mọi mặt

III

Đại hội nhận thấy rằng sau đại chiến lần thứ hai, lực lượng Dân chủ thế giới phát triển vượt bực.

- Liên-xô kiến thiết xã hội chủ nghĩa mau chóng, ảnh hưởng và uy tín của Liên-xô ngày càng rộng lớn làm cho bọn phản động quốc tế lo sợ.

- Nhờ sự giúp đỡ của nước Xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo phát triển mạnh mẽ chế độ dân chủ nhân dân và đạt được nhiều thành tích rực rỡ và kiến thiết quốc gia.

- Sự thắng lợi vĩ đại của cách mạng Trung-hoa là thắng lợi rất lớn của phong trào dân chủ thế giới, đồng thời là sự thất bại nặng nề của phản động quốc tế.

- Phong trào tranh đấu giành độc lập thực sự của các dân tộc nhược tiểu càng ngày càng lên cao làm cho sự thống trị của đế quốc chủ nghĩa ở các thuộc địa bị lung lay.

- Phong trào dân chủ và hòa bình của các từng lớp nhân dân trên thế giới chống âm mưu gây chiến tranh và chính sách nô lệ hóa thế giới của phản động Mỹ càng ngày càng rộng lớn.

- Phe phản dân chủ càng ngày càng suy sụp và càng thêm phản động.

- Kinh tế khủng hoảng rất trầm trọng ở các nước đế quốc Anh, Pháp, Ý, Hà-lan v.v… ở các nước này giá sinh hoạt càng ngày càng đắt đỏ, tiền lương không theo kịp giá hàng, nạn thất nghiệp càng ngày càng nhiều, tiền tệ các nước thuộc kế hoạch Mác-san ở châu Âu bị sụt giá, nhất là đồng bảng Anh và đồng Phật-lăng Pháp.

- Đế quốc Mỹ, tên trùm phản động đã làm giàu trong chiến tranh thứ hai này cũng đương đi sâu vào khủng hoảng, thị trường Thế giới bị thu hẹp, hàng bán ế, lượng thợ phải sụt, số thợ thất nghiệp càng tăng mau, do đó nhiều cuộc đình công của hàng triệu thợ đã xảy ra liên tiếp ngay trong nước Mỹ.

- Mỹ âm mưu lũng loạn nền kinh tế thế giới bằng cách đưa ra kế hoạch Mác-San để bán hàng, tìm cách giải quyết nạn khủng hoảng của mình, nô lệ hóa các nước tư bản túng thiếu ở Tây Âu.

Phản động Mỹ còn âm mưu gây chiến tranh thứ ba hòng làm bá chủ hoàn cầu, tăng sức sản xuất bom nguyên tử, gia hạn tòng quân, lập khối Tây Âu, âm mưu lập khối Địa Trung Hải và Thái Bình dương, mua chuộc bọn cơ hội Ti-tô, bán vũ khí và dùng bọn tay sai phản động ở thuộc địa để bao vây Liên-xô và đàn áp phong trào thợ thuyền, phong trào Dân chủ thế giới và phong trào của các thuộc địa.

IV

Đại hội nhận thấy rằng sau đại chiến thứ hai, công nhân Liên-xô và công nhân các nước Dân chủ nhân dân nỗ lực kiến thiết quốc gia, kỹ nghệ các nước này được phát triển mạnh mẽ, đời sống lao động càng ngày càng được nâng cao về mọi mặt.

Trái lại, ở các nước tư bản, thợ thuyền bị bóc lột dã man, chúng thu hẹp quyền dân chủ, tước bỏ nhiều quyền lợi lao động. Đời sống công nhân ở các nước này rất thiếu thốn, tiền lương không theo kịp giá sinh hoạt. Nạn thất nghiệp đương lan rộng, chúng đàn áp phong trào tranh đấu của thợ thuyền ngày càng dữ dội. Một mặt khác chúng mua chuộc bọn lãnh tụ phản động của các Công đoàn ở Anh, Mỹ và “lực lượng thợ thuyền” ở Pháp để xuyên tạc đường lối hoạt động của Công đoàn và âm mưu phá vỡ tổ chức của thợ thuyền và Liên hiệp Công đoàn thế giới.

Ở các nước thuộc địa và bán thuộc địa, đời sống thợ thuyền ngày càng nguy khốn và sự đàn áp của phản động ngày càng dữ dội hơn.

Trước phong trào lao động thế giới hiện nay, Đại hội quyết định: Giai cấp công nhân Việt-nam phải tích cực hơn nữa trong việc chung sức cùng lao động thế giới đấu tranh cho sự thống nhất giai cấp, trong hàng ngũ Liên hiệp Công đoàn lao động thế giới tham gia phong trào bảo vệ hòa bình, chống lại âm mưu chia rẽ thợ thuyền, mọi hành động phản Công đoàn để bảo vệ quyền lợi lao động thế giới và nền dân chủ hòa bình nhân loại.

V

Đại hội nhận xét rằng, cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp hiện nay đương đón đường cho tài phiệt Mỹ dúng tay vào Việt-nam mưu biến Việt-nam làm một vị trí chống phong trào dân chủ thế giới va giải phóng dân tộc ở Á châu; Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt-nam được lao động và các lực lượng dân chủ thế giới hết sức ủng hộ.

Do sự tham lam của thực dân Pháp mà thanh niên Pháp và thanh niên các thuộc địa Pháp đã phải đem làm bia đỡ đạn cho chúng trên các chiến trường Việt-nam, do sự thắng lợi vĩ đại của giải phóng quân Trung Hoa, tàn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa đã cố kết với thực dân Pháp tràn sang quấy nhiễu nhân dân Việt-nam.

Trong ba năm toàn quốc kháng chiến, bộ đội và nhân dân Việt-nam đã anh dũng chiến đấu vượt mọi khó khăn đoạt được nhiều thắng lợi quyết định, và hiện nay đang gấp tiến tới giai đoạn Tổng phản công.

Lao động Việt-nam với tỷ số đông đảo và thành tích chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội quốc gia và Dân quân Việt-nam với thành tích phá hoại kinh tế địch trong vùng tạm bị chiếm,với những thành tích sáng chế, sản xuất, vận tải, liên lạc, xây dựng và bảo vệ xí nghiệp, v.v. trong vùng tự do đã góp nhiều công sức vào cuộc trường kỳ kháng chiến.

Đại hội quyết định rằng trước tình thế hiện tại, lao động Việt-nam phải gấp rút:

- Tăng cường sức sản xuất về mọi mặt;

- Tăng cường sức phá hoại làm tê liệt kinh tế địch;

- Đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân;

- Phối hợp chặt chẽ với lao động Pháp và các thuộc địa lao động Trung-hoa;

- Cùng toàn thể nhân dân tiến mau sang giai đoạn Tổng phản công quét sạch giặc nước ra khỏi bờ cõi, tiêu diệt bè lũ tay sai của chúng tiến tới thắng lợi hoàn toàn.

VI

Đại hội nhận xét rằng cuộc cách mạng tháng Tám do giai cấp công nhân lãnh đạo lật đổ ách thống trị và tay sai của đế quốc Pháp trên đất nước Việt-nam, chính quyền dân chủ nhân dân đã đem lại nhiều quyền lợi thiết thực cho giai cấp lao động và nhân dân và đang lãnh đạo toàn dân kháng chiến thắng lợi giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Việt-nam.

Lao động Việt-nam muốn giải phóng hoàn toàn cho mình phải đi tiền phong trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Đại hội quyết nghị:

- Triệt để tuân theo chính phủ kháng chiến do chủ tịch Hồ-chí-Minh lãnh đạo.

- Phá tan mọi chính quyền bù nhìn tay sai của thực dân Pháp.

- Tích cực củng cố chính quyền nhân dân.

- Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh.

- Phát triển chế độ Ủy ban xí-nghiệp để lao động tham gia vào sự quản trị xí-nghiệp.

VII

Đại hội nhận thấy rằng: chính sách xâm lược của thực dân là chính sách chia rẽ dân tộc, chia rẽ đảng phái, tôn giáo, Nam Bắc. Trước âm mưu ấy, chính sách cách mạng của giai cấp công nhân là đại đoàn kết toàn dân để chiến thắng và đã đưa toàn dân kháng chiến ngày càng mạnh mẽ. Đại hội quyết định rằng: Công đoàn phải thực sự là tổ chức căn bản của mặt trận dân tộc thống nhất Việt-Minh, Liên-Việt, phải liên kết chặt chẽ với Nông-Hội và các đoàn thể trong mặt trận để tiêu diệt giặc Pháp và phản động, xây dựng nền dân chủ nhân dân.

VIII

Đại hội nhận xét rằng trong công cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. Nông dân là một lực lượng căn bản và là bạn đồng minh trực tiếp của giai cấp công nhân.

Hai tổ chức Công đoàn, Nông dân Cứu quốc là tổ chức trụ cột của Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là lực lượng căn bản trong việc xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân.

Đại hội quyết định:

- Giúp đỡ Nông dân cải tiến kỹ thuật canh tác, cải tiến nông cụ thành lập Hợp tác xã nông nghiệp.

- Hoạt động ủng hộ chính sách giảm tô, giảm tức, tạm cấp ruộng đất tịch thu của thực dân Pháp và Việt gian cho Nông dân.

- Giúp đỡ Nông dân học tập văn hóa, chính trị.

IX

Đại hội nhận định rằng chế độ thuộc địa của Pháp đã để lại cho nhân dân Việt-nam một nền kinh tế lạc hậu, đổ nát.

Lao động và nhân dân Việt-nam từ khi nắm giữ chính quyền đã xây dựng nền móng kinh tế dân chủ mới, cung cấp nhu cầu cho kháng chiến và đời sống nhân dân.

Muốn giải phóng hoàn toàn cho giai cấp, lao động Việt-nam phải là lực lượng trụ cột trong việc xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân.

Đại hội quyết nghị:

- Nỗ lực xây dựng nền kinh tế quốc gia, tăng cường mức sản xuất để cung cấp cho cuộc kháng chiến và cải thiện dân sinh, đặc biệt chú trọng nền kỹ nghệ quốc phòng.

- Phát triền kinh tế hợp tác xã.

X

Đại hội nhận thấy rằng quyền lợi về chính trị, kinh tế, xã hội của lao động và nhân dân Việt-nam, Cao-mên và Ai-lao rất mật thiết với nhau. Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của ba dân tộc không thể tách rời nhau ra được, sự tương trợ giữa lao động và nhân dân Việt Mên Lào rất là cần thiết. Việc tương trợ ấy cần phải tiến mạnh mẽ hơn nữa để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến xây dựng nền kinh tế quốc gia của mỗi dân tộc, Đại hội quyết định Tổng Liên đoàn, các cấp bộ Công đoàn, toàn thể giai cấp công nhân Việt-nam phải tích cực giúp đỡ công nhân và cách mạng Mên Lào hoạt động mạnh mẽ hơn nữa.

XI

Đại hội nhận xét rằng lao động Việt-nam ở Hải ngoại có một tinh thần yêu nước nồng nàn và một tinh thần tranh đấu quyết liệt cho nền độc lập của Tổ quốc. Trong khoảng thời gian qua, lao động Việt-nam ở Hải ngoại đã liên lạc mật thiết với Tổng Liên đoàn lao động Việt-nam. Việc liên lạc mật thiết ấy còn phải đẩy mạnh hơn bằng mọi cách.

- Tổng Liên đoàn phải luôn luôn giúp đỡ những tài liệu và kinh nghiệm hoạt động ở trong nước cho lao động Việt-nam ở Hải ngoại.

- Theo dõi và giúp đỡ các cuộc tranh đấu của công đoàn Việt-nam ở ngoại quốc, trong việc bảo vệ quyền lợi lao động, bảo vệ độc lập cho Tổ quốc và bảo vệ nền hòa bình dân chủ và hòa bình cho nhân loại.

XII

Đại hội nhận thấy rằng: Trong quá trình tranh đấu tổ chức của giai cấp công nhân đã biến chuyển qua nhiều hình thức tổ chức rất linh động, thích hợp với hoàn cảnh và nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng của dân tộc, nhờ vậy mà trải qua nhiều cuộc khủng bố dữ dội của đế quốc Pháp, tổ chức của giai cấp vẫn duy trì được và ngày càng lớn mạnh.

Tổng liên đoàn từ khi thành lập tới nay đã được củng cố và phát triển mạnh mẽ và đã gia nhập trong đại gia đình Liên hiệp công đoàn thế giới.

Trong ba năm kháng chiến vừa qua, công đoàn đã tăng nhiều về số lượng. Mặc dầu hoàn cảnh khó khăn sự liên lạc lãnh đạo giữa các cấp tương đối được mật thiết, mọi mặt công tác được mở rộng. Trong vùng địch tạm chiếm, tổ chức công đoàn đã lớn lên, vững chắc qua những cuộc tranh đấu chống giặc.

Đại hội nhận thấy rằng: để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ công tác do Liên hiệp công đoàn thế giới đề ra, những đường lối công tác do đại hội ấn định phải tích cực xây dựng tổ chức Công đoàn thực lớn mạnh, nghĩa là phải:

- Chấn chỉnh hệ thống tổ chức, củng cố và phát triển Công đoàn ngành dọc.

- Củng cố các công đoàn cơ sở

- Phát triển rộng rãi thành phần lao động trí thức vào Công đoàn.

- Phát triển mạnh và nắm vững cơ sở vùng địch tạm chiếm.

- Kiên quyết sửa đổi lề lối làm việc và nâng cao trình độ cho cán bộ và đoàn viên.

- Liên lạc chặt chẽ, báo cáo đều cho cấp trên.

- Tích cực giúp đỡ công nhân Mên, Lào gây cơ sở, phát triển cơ sở.

XIII

Đại hội nhận định rằng mặc dầu trong hoàn cảnh kháng chiến do sự săn sóc của Chính phủ và đoàn thể do phong trào tự cải thiện của công nhân, đời sống của lao động dần dần được cải thiện.

Song cuộc kháng chiến chưa hoàn toàn thắng lợi thì giai cấp còn phải chịu đựng gian khổ. Đại hội quyết nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn và các cấp bộ công đoàn xúc tiến việc cải thiện đời sống cho lao động, tổ chức và phát triển hợp tác xã công nhân, một mặt khác, chú trọng giúp đỡ công nhân tự cải thiện để làm giảm nhẹ bớt những khó khăn của giai cấp trong thời kỳ kháng chiến tiến dần đến một chế độ lao động rộng rãi hơn, khi kháng chiến thắng lợi.

Về văn hóa, hiện nay, hầu hết công nhân tập trung ở trong các xí nghiệp vùng tự do đều thoát nạn mù chữ.

Phong trào văn nghệ trong xí nghiệp đương nẩy nở và phát triển. Công nhân vùng địch tạm chiếm thì không được học hành gì. Tuy vậy trình độ của công nhân nói chung còn thấp kém về mọi mặt.

Đại hội quyết nghị các cấp bộ công đoàn phải chú trọng việc giáo dục và nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, chuyên môn cho công nhân vùng tự do. Đặc biệt về văn hóa, diệt dốt nạn mù chữ còn rải rác, lấy trình độ tiểu học làm tiêu chuẩn huấn luyện cho công nhân, hướng dẫn và dìu dắt phong trào văn nghệ công nhân trong các xí-nghiệp, Công đoàn phải thường xuyên mở các lớp huấn luyện ngắn kỳ ở các xí-nghiệp.

Riêng vùng tạm chiếm, các cấp bộ công đoàn phải có một kế hoạch chống chính sách văn hóa ngu dân của giặc, đồng thời tìm mọi cách giúp đỡ công nhân học tập.

XIV

Đại hội nhận thấy rằng: Giai cấp công nhân Việt-nam đã đạt được nhiều thành tích qua các cuộc thi đua ái quốc và do đó trình độ tổ chức, chính trị, văn hóa, chuyên môn của công nhân tiến triển không ngừng.

Nhiều xí-nghiệp đã vượt chương trình sản xuất. Nhiều phẩm vật đã được sáng chế để thay thế những hàng ngoại hóa. Các anh hùng lao động xuất hiện trong khắp mọi ngành.

Cơ sở Công đoàn trong vùng địch được phát triển và củng cố vững chắc thêm.

Những kết quả cụ thể trên đây về thi đua đã góp một phần rất lớn, cuộc kháng chiến kiến quốc từ mấy năm nay. Nhưng nói chung, trong quá trình thi đua, các cấp bộ công đoàn cũng như công nhân còn nhiều khuyết điểm như: quan niệm Thi đua chưa được đúng, chưa phối hợp chặt chẽ với các ngành chuyên môn trong việc tổ chức và động viên công nhân thi đua, việc thống kê tổng kết, phổ biến kinh nghiệm thi đua chưa làm được chu đáo. Những khuyết điểm này cần được khắc phục.

Để làm tròn nhiệm vụ công tác trong giai đoạn tiến tới Tổng phản công và sửa soạn kiến thiết, Đại hội quyết định: Các cấp bộ công đoàn phải nỗ lực động viên, hướng dẫn toàn thể lao động Việt-nam cố gắng hơn nữa trong các chương trình Thi đua ái quốc.

Trích cuốn sách Công đoàn Việt Nam từ Đại hội I đến Đại hội X của NXB Lao động.