Đảng ủy Tổng LĐLĐVN tổ chức hội nghị trực tuyến quán triệt, triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW
Sáng 30.6, Đảng ủy Tổng LĐLĐVN tổ chức Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Thực hiện Kế hoạch số 123-KH/BTGDVTW, ngày 26.6.2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về triển khai, tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, ngày 30.6, Đảng ủy Tổng LĐLĐVN tổ chức Hội nghị trực tuyến tại trụ sở Cơ quan Tổng LĐLĐVN kết nối với điểm cầu Trung ương tại phòng họp Diên Hồng, Tòa nhà Quốc hội.
Dự tại điểm cầu Trung ương về phía Đảng ủy Tổng LĐLĐVN có đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Nguyễn Anh Tuấn; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN: Thái Thu Xương, Lê Văn Nghĩa.
Dự tại điểm cầu Tổng LĐLĐVN có đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng LĐLĐVN; đồng chí Nguyễn Xuân Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN; đồng chí Vũ Anh Đức, Phó Bí thư Đảng ủy Tổng LĐLĐVN.
Toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động các ban trực tiếp tham mưu của Tổng LĐLĐVN và cơ quan Đảng ủy Tổng LĐLĐVN, Nhà Xuất bản Lao động, Trường Trung cấp Nghiệp vụ và Dạy nghề Công đoàn Hà Nội cùng dự.

Tại điểm cầu các đảng bộ, chi bộ: Báo Lao Động, Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động, Nhà khách Tổng LĐLĐVN, Công ty Du lịch Công đoàn, Công ty Cổ phần In Công đoàn Việt Nam, Ban Quản lý dự án Công đoàn... toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động tham dự đầy đủ Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nêu rõ: Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Qua đó từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tiếp nhận công nghệ, phương thức quản trị tiên tiến.
Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước.
Tỉ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế; còn hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng ở một số địa phương.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Hoạt động góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của các quỹ đầu tư, định chế tài chính toàn cầu, nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế, quản lý thiếu chặt chẽ.
Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.
Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo là: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng… làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Xem bản gốc tại đây