Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong Cách mạng Tháng Tám 1945, ngọn cờ quy tụ sức mạnh toàn dân

Kim Sơn (báo lao động) 18/11/2025 09:42 (GMT+7)

Tám mươi năm đã trôi qua, nhưng hào khí của Cách mạng Tháng Tám 1945 vẫn còn vang dội. Trong muôn vàn yếu tố làm nên thắng lợi thần kỳ chỉ trong 15 ngày, sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc được quy tụ dưới ngọn cờ Mặt trận Việt Minh là nhân tố quyết định bậc nhất. Đó là kết quả của 15 năm chuẩn bị kiên cường, là nghệ thuật biến chủ nghĩa yêu nước thành lực lượng vật chất vĩ đại. Việt Minh chính là chìa khóa giải mã cuộc Cách mạng “long trời lở đất”, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên độc lập, tự do.

Từ "Hội Phản đế" đến "Việt Minh"

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những sự kiện vĩ đại và oanh liệt nhất trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Chỉ trong vòng 15 ngày ngắn ngủi, một dân tộc đã bị đô hộ gần một thế kỷ đã vùng lên đập tan xiềng xích của chủ nghĩa thực dân Pháp và ách thống trị của phát xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngàn năm, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thắng lợi thần kỳ đó là kết quả hội tụ của nhiều yếu tố: Sự mục ruỗng của chế độ thực dân - phong kiến, điều kiện quốc tế thuận lợi khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, và trên hết là 15 năm chuẩn bị gian khổ, kiên cường của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trong vô vàn các nhân tố làm nên thắng lợi, việc xây dựng, tổ chức và phát huy sức mạnh của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, mà đỉnh cao là Mặt trận Việt Minh, nổi lên như nhân tố quyết định hàng đầu. Đây không chỉ là tổ chức tập hợp lực lượng, mà còn là hiện thân của nghệ thuật đoàn kết toàn dân, là biểu tượng cho ý chí và khát vọng độc lập của dân tộc.

Mặt trận đã thành công trong việc biến sức mạnh tiềm tàng của quần chúng thành một lực lượng vật chất vĩ đại, kết hợp tài tình đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, và trên hết, đã chớp lấy "thời cơ ngàn năm có một" để lãnh đạo nhân dân giành chính quyền. Thắng lợi của Mặt trận Việt Minh năm 1945 không phải là thành công ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình tìm tòi, thử nghiệm và phát triển tư duy chiến lược lâu dài của Đảng Cộng sản về vấn đề đoàn kết dân tộc.

Ngay từ khi thành lập Đảng năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề cập đến việc phải "thu phục cho được đại bộ phận dân cày" và liên minh với các lực lượng khác. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của khuynh hướng "tả" trong Quốc tế Cộng sản thời kỳ đó, Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 đã quá nhấn mạnh vào vấn đề đấu tranh giai cấp, đặt nặng lợi ích của công nông mà chưa thấy hết được vai trò của các tầng lớp khác. Chủ trương thành lập "Hội Phản đế Đồng minh" tuy là một bước tiến, nhưng vẫn mang nặng tính giai cấp, chưa đủ sức hiệu triệu toàn dân tộc.

Bước ngoặt đầu tiên trong tư duy Mặt trận là giai đoạn 1936-1939. Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, Đảng đã linh hoạt chuyển hướng, chủ trương thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Mục tiêu lúc này là đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Việc tạm gác khẩu hiệu "đánh đổ đế quốc" để tập trung vào mục tiêu trước mắt đã giúp Đảng tập hợp được một lực lượng quần chúng đông đảo, bao gồm cả trí thức, tiểu tư sản, thậm chí một bộ phận tư sản dân tộc. Đây là cuộc "diễn tập" quan trọng, giúp Đảng tích lũy kinh nghiệm quý báu trong việc tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai và bán công khai.

Tuy nhiên, bước ngoặt quyết định chỉ thực sự đến tại Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (tháng 5 năm 1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pác Bó. Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai đã bùng nổ và Nhật nhảy vào Đông Dương, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Hội nghị đã đưa ra quyết sách lịch sử: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, "quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc".

Từ nhận định chiến lược đó, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Đây là một sáng tạo thiên tài. Tên gọi "Việt Nam Độc lập Đồng minh" tự nó đã là một cương lĩnh, một lời hiệu triệu, tập trung vào hai chữ cốt lõi nhất: "Việt Nam" và "Độc lập". Nó không còn phân biệt giai cấp, tôn giáo, chính kiến, mà mở rộng vòng tay đoàn kết "hết thảy các giới đồng bào yêu nước", bất kể họ là ai, miễn là cùng chung mục tiêu đánh đuổi Nhật - Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc. Sự ra đời của Việt Minh đã hoàn toàn cởi bỏ những trói buộc về tư duy giai cấp trước đây, đưa chủ nghĩa yêu nước trở thành động lực chính, thành mẫu số chung lớn nhất để quy tụ sức mạnh toàn dân.

Ngọn cờ tổ chức và phát huy sức mạnh toàn dân tộc

Không chỉ là chủ trương đúng đắn, Việt Minh còn chứng tỏ sức sống mãnh liệt qua mô hình tổ chức linh hoạt và khả năng phát huy sức mạnh phi thường của quần chúng. Vai trò của Mặt trận Việt Minh nổi bật khi thực hiện thắng lợi sứ mạng tập hợp toàn dân, đóng vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng.

Trước hết, Việt Minh xây dựng một hệ thống tổ chức bao trùm, thống nhất. Thay vì một mặt trận chung chung, Việt Minh được cấu trúc cụ thể thông qua các "Hội Cứu quốc" (Hội Nông dân Cứu quốc, Hội Công nhân Cứu quốc, Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Phụ lão Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu quốc...).

Thậm chí, Đảng còn vận động thành lập Hội Văn hóa Cứu quốc để tập hợp giới trí thức, văn nghệ sĩ. Mô hình này cho phép mọi người dân, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, đều có thể tìm thấy vị trí của mình trong cuộc đấu tranh chung. Các Hội Cứu quốc vừa là nơi tuyên truyền, giác ngộ, vừa là trường học rèn luyện, đào tạo cán bộ, và là hạt nhân của phong trào ở cơ sở.

Một yếu tố then chốt khác là Việt Minh đã kết hợp tài tình đấu tranh chính trị với xây dựng lực lượng vũ trang. Mặt trận không chỉ vận động quần chúng biểu tình, bãi công, mà còn trực tiếp tổ chức lực lượng vũ trang. Từ các đội du kích, Cứu quốc quân, Đảng và Việt Minh đã tiến tới thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22.12.1944).

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ở Cao Bằng do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy (22.12.1944).
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ở Cao Bằng do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy (22.12.1944).

Đây là bước phát triển vượt bậc, biến lực lượng chính trị của quần chúng thành lực lượng quân sự có tổ chức. Vai trò của đồng chí Võ Nguyên Giáp trong việc thành lập đội quân chủ lực này là hiện thực hóa chủ trương của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, tạo ra "quả đấm" quân sự nòng cốt cho khởi nghĩa.

Song song đó, việc xây dựng các căn cứ địa cách mạng như Việt Bắc thành "Khu giải phóng" (tháng 6.1945) có ý nghĩa chiến lược. Nó không chỉ là hậu phương an toàn, mà còn là "hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới", nơi các chính sách của Việt Minh được thí điểm, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân.

Cùng với đó, Việt Minh tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động sáng tạo và hiệu quả. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác tư tưởng, Việt Minh đã sử dụng mọi hình thức để đưa đường lối cách mạng vào quần chúng. Báo chí (Cờ Giải phóng, Cứu Quốc, Việt Nam Độc lập), truyền đơn, thơ ca, hò vè, kịch nói... đã trở thành vũ khí sắc bén.

Những khẩu hiệu được đưa ra vô cùng cụ thể, thiết thực, đáp ứng nguyện vọng cấp bách của nhân dân. Đặc biệt, khi nạn đói khủng khiếp diễn ra vào cuối 1944 đầu 1945, khẩu hiệu "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói" của Việt Minh đã có sức lay động ghê gớm. Nó không chỉ giải quyết vấn đề dân sinh trước mắt mà còn vạch trần tội ác của phát xít Nhật và sự bất lực của chính quyền bù nhìn, qua đó "ý Đảng hợp lòng dân", đưa hàng triệu nông dân đang phẫn uất ngả hẳn về phía cách mạng.

Một trong những thành công xuất sắc của Mặt trận là hoạt động ngoại giao do lãnh tụ Hồ Chí Minh trực tiếp đảm nhiệm. Việt Minh không chỉ đấu tranh với kẻ thù mà còn chủ động tìm kiếm đồng minh. Bằng việc bắt liên lạc và hợp tác với lực lượng Đồng Minh, cụ thể là Cục Tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS), Việt Minh đã định vị mình là lực lượng chống phát xít chủ yếu và duy nhất có tổ chức tại Đông Dương.

Việc chủ động tiến hành đấu tranh ngoại giao này đã mang lại lợi ích kép: vừa tranh thủ được sự hỗ trợ (dù hạn chế) về vũ khí, điện đài, huấn luyện, vừa tạo được "tính chính danh" quốc tế. Chính vị thế "đồng minh chống phát xít" này đã tạo thuận lợi cho Việt Minh khi tuyên bố độc lập, làm cho âm mưu quay trở lại của thực dân Pháp trở nên lạc lõng và phi nghĩa.

Nghệ thuật chớp thời cơ trong Tổng khởi nghĩa dưới lá cờ của Mặt trận

Sự chuẩn bị lực lượng chu đáo trong 15 năm là điều kiện cần, nhưng nghệ thuật chớp thời cơ chính là điều kiện đủ quyết định thắng lợi. Khi phát xít Nhật bất ngờ đảo chính Pháp (9.3.1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng lập tức ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta".

Đây là văn kiện thể hiện sự nhạy bén chính trị tột độ. Đảng nhận định kẻ thù chính, cụ thể trước mắt lúc này là phát xít Nhật. Một "cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc" đã nổ ra, tạo điều kiện cho cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa.

Đến ngày 15.8.1945, khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, "thời cơ ngàn năm có một" đã điểm. Quân Nhật ở Đông Dương như rắn mất đầu, chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim tê liệt, trong khi quân Đồng Minh chưa kịp đổ bộ. Đây chính là "khoảng trống quyền lực" vô giá. Ngay lập tức, Hội nghị toàn quốc của Đảng (13-15.8) và Đại hội Quốc dân do Việt Minh triệu tập tại Tân Trào (16-17.8) đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.

Đại hội Quốc dân Tân Trào chính là đỉnh cao của vai trò Mặt trận Việt Minh. Đại hội không chỉ quy tụ đại biểu toàn dân mà còn hành động như một Quốc hội lâm thời, bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Hành động này đã trao cho cuộc Tổng khởi nghĩa tính chính danh cao nhất. Lệnh khởi nghĩa (Quân lệnh số 1) được ban bố, làn sóng cách mạng lan đi khắp cả nước.

Quần chúng cách mạng và tự vệ chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ), ngày 19.8.1945. Cách mạng Tháng Tám thành công tại Hà Nội. Ảnh: Tư liệu TTXVN.
Quần chúng cách mạng và tự vệ chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ), ngày 19.8.1945. Cách mạng Tháng Tám thành công tại Hà Nội. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Tại các địa phương, chính các ủy ban Việt Minh tỉnh, huyện, xã đã trực tiếp lãnh đạo quần chúng nổi dậy. Tại Hà Nội (19.8), Huế (23.8) và Sài Gòn (25.8), các cuộc biểu tình của hàng chục vạn quần chúng dưới ngọn cờ Việt Minh đã nhanh chóng chuyển thành khởi nghĩa vũ trang, chiếm giữ các cơ quan đầu não của địch. Ở Nam Bộ, Xứ ủy Nam Kỳ đã vận dụng sáng tạo, "tương kế tựu kế" khi lãnh đạo tổ chức Thanh niên Tiền phong, một tổ chức công khai do Nhật bảo trợ, thành một lực lượng cách mạng hùng hậu. Khi thời cơ đến, tổ chức này lập tức ngả theo Việt Minh, trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc khởi nghĩa tại Sài Gòn.

Toàn bộ quá trình Tổng khởi nghĩa là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng chính trị của quần chúng (do Mặt trận tổ chức) và lực lượng vũ trang (do Mặt trận xây dựng). Sức mạnh áp đảo của quần chúng đã khiến quân Nhật bị tê liệt, không dám can thiệp, chính quyền bù nhìn nhanh chóng tan rã, giúp cuộc cách mạng giành thắng lợi nhanh gọn, triệt để và ít đổ máu.

Từ việc hoàn thiện tư duy chiến lược, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, đến việc sáng tạo ra mô hình tổ chức "Hội Cứu quốc" linh hoạt; từ việc xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp đến tổ chức quân đội chủ lực; từ công tác tuyên truyền hiệu quả đến đấu tranh ngoại giao khôn khéo; và cuối cùng là nghệ thuật chớp thời cơ phát động toàn dân nổi dậy - tất cả đều mang đậm dấu ấn của tư duy Mặt trận.

Việt Minh đã thành công trong việc biến chủ nghĩa yêu nước thành sức mạnh vật chất có tổ chức, quy tụ mọi tầng lớp nhân dân dưới ngọn cờ đại nghĩa, làm nên bản hùng ca vĩ đại của thế kỷ XX. Bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua Mặt trận thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, vẫn còn nguyên giá trị nóng hổi. Đó không chỉ là chìa khóa cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, mà còn là di sản vô giá, là động lực cốt lõi để dân tộc Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ trong bối cảnh toàn cầu hóa hôm nay.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục