Xăng E10 đã được triển khai thí điểm tại nhiều nơi. Ảnh: Tuyết Lan
Xăng E10 đã được triển khai thí điểm tại nhiều nơi. Ảnh: Tuyết Lan

Bảo đảm lộ trình xăng sinh học, bước đi cần thiết cho an ninh năng lượng

NHÓM PHÓNG VIÊN (báo lao động) 11/03/2026 15:10 (GMT+7)

Xăng sinh học E10 sẽ triển khai từ ngày 1.6.2026, được xem là bước đi quan trọng giúp Việt Nam chuyển dịch năng lượng xanh, giảm phát thải và tăng tự chủ nguồn nhiên liệu trong bối cảnh giá dầu thế giới liên tục biến động.

Nhiên liệu sinh học là lựa chọn chiến lược

Ngày 9.3 tại Hà Nội, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị triển khai lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT. Đây là bước cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho rằng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp và chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu thường xuyên bị gián đoạn bởi xung đột địa chính trị, việc phát triển các nguồn năng lượng thay thế, trong đó có nhiên liệu sinh học, là yêu cầu mang tính chiến lược đối với mỗi quốc gia.

Xăng sinh học được tạo ra bằng cách phối trộn ethanol nhiên liệu với xăng khoáng. Trong đó, xăng E10 có tỉ lệ 10% ethanol và 90% xăng nền. Theo lộ trình mới, từ ngày 1.6.2026, xăng không chì lưu thông trên thị trường Việt Nam sẽ phải được phối trộn thành xăng sinh học E10, trong khi xăng E5 tiếp tục được sử dụng song song đến hết năm 2030.

Giảm phụ thuộc nhập khẩu xăng dầu

Một trong những lợi ích quan trọng của xăng sinh học là góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu. Hiện nay, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng một phần ba lượng xăng dầu thành phẩm, trong khi nguồn cung năng lượng thế giới thường xuyên biến động.
Theo các chuyên gia, khi giá dầu quốc tế tăng mạnh, chi phí nhập khẩu xăng dầu sẽ kéo theo áp lực tăng giá trong nước. Trong trường hợp nguồn cung toàn cầu bị gián đoạn, nguy cơ thiếu hụt nhiên liệu cũng có thể xảy ra.

Trong bối cảnh đó, việc tăng tỉ trọng nhiên liệu sinh học như xăng E10 được xem là giải pháp giúp Việt Nam chủ động hơn về nguồn cung năng lượng.

Việc phát triển nhiên liệu sinh học tạo đầu ra ổn định cho nhiều sản phẩm nông nghiệp như sắn, mía và ngô. Đây là những nguyên liệu chính để sản xuất ethanol, không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Theo Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 5 triệu tấn sắn, trong đó hơn 1,3 triệu tấn được sử dụng để sản xuất ethanol. Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học trong nước.

Doanh nghiệp chuẩn bị cho giai đoạn chuyển đổi

Để triển khai lộ trình xăng sinh học, nhiều doanh nghiệp trong ngành năng lượng đã chủ động chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật và nguồn cung nguyên liệu.

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, một trong hai nhà máy lọc dầu lớn của Việt Nam cho biết, đang chuẩn bị tiếp nhận khoảng 60.000 tấn ethanol nhiên liệu để phục vụ pha chế xăng E10.

Đơn vị cung cấp ethanol cho nhà máy Lọc dầu Dung Quất là Công ty Cổ phần Nhiên liệu Sinh học Dầu khí Miền Trung hiện đã hoàn thành giai đoạn chạy thử và cho ra sản phẩm ethanol nhiên liệu. Trong giai đoạn vận hành ban đầu, nhà máy sản xuất được khoảng 470m³ ethanol và đã xuất lô hàng đầu tiên cung cấp cho BSR để phục vụ pha chế xăng sinh học E10 RON95.

Sau giai đoạn thử nghiệm, nhà máy tiếp tục tối ưu hóa quy trình kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Khi vận hành ở công suất tối ưu, sản lượng ethanol dự kiến đạt khoảng 60.000 tấn mỗi năm, bình quân hơn 5.000 tấn mỗi tháng. Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là sắn lát khô, được cung ứng theo hợp đồng dài hạn nhằm bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định.

Nhiều doanh nghiệp xăng dầu lớn như Petrolimex và PVOIL đã bắt đầu thí điểm bán xăng E10 tại một số địa phương từ năm 2025. Kết quả bước đầu cho thấy chưa ghi nhận phản hồi tiêu cực từ người tiêu dùng về chất lượng xăng cũng như tác động đến động cơ phương tiện.

Thống kê của Bộ Công Thương, hiện đã có 12 trong tổng số 26 thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu có cơ sở pha chế xăng sinh học, với tổng năng lực pha chế khoảng 965.000m³ mỗi tháng, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu phối trộn trên phạm vi toàn quốc.

Vẫn còn thách thức về nguồn cung ethanol

Qua tính toán, để triển khai xăng E10 trên toàn quốc, mỗi tháng Việt Nam cần khoảng 92.000 - 100.000m³ ethanol. Trong khi đó, các nhà máy trong nước hiện chỉ có thể sản xuất khoảng 25.000m³ mỗi tháng, tương đương gần 30% nhu cầu.

Phần còn lại sẽ phải bổ sung từ nguồn nhập khẩu, chủ yếu từ các thị trường lớn như Mỹ và Brazil. Điều này đặt ra yêu cầu cần sớm đầu tư mở rộng công suất các nhà máy ethanol trong nước và phát triển vùng nguyên liệu ổn định.

Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu cũng cho rằng việc chuyển đổi sang xăng sinh học sẽ phát sinh thêm chi phí đầu tư hệ thống bồn bể, vận chuyển và lưu trữ ethanol. Vì vậy, cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp về thuế và chi phí kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi.

Thực tế cho thấy, xăng sinh học đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia như Mỹ, Brazil, Thái Lan hay Philippines. Tại Mỹ, khoảng 98% lượng xăng bán ra trên thị trường có pha trộn ethanol, trong khi tại Thái Lan, xăng E10 chiếm hơn 80% thị phần tiêu thụ.

Có thể sớm triển khai xăng E10 trước 1.6.2026

Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho biết, theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT, từ ngày 1.6.2026, xăng không chì theo quy chuẩn kỹ thuật hiện hành sẽ bắt buộc pha trộn thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc. Tuy nhiên, hiệu lực của Thông tư đã bắt đầu từ ngày 1.1.2026. Điều này có nghĩa về mặt pháp lý, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể triển khai sớm hơn, chứ không nhất thiết phải chờ đến ngày 1.6.2026".

Tuy nhiên, ông Đỗ Văn Tuấn cũng cho rằng, việc triển khai xăng E10 trong hiện nay vẫn còn những thách thức. Thứ nhất là vấn đề thủ tục và hạ tầng kỹ thuật. Hiện nay việc cấp phép cho các trạm phối trộn ethanol với xăng khoáng vẫn còn vướng mắc. Theo thông tin từ cơ quan quản lý, đến thời điểm này mới chỉ có khoảng 3/26 thương nhân đầu mối đủ điều kiện và được cấp giấy phép. Các doanh nghiệp còn lại vẫn đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ.

Thứ hai là vấn đề quyết định kinh doanh của các thương nhân đầu mối. Nhà nước hay các bộ ngành chỉ có thể đóng vai trò thúc đẩy và giám sát, còn quyết định mua ethanol hay triển khai phối trộn vẫn thuộc về thương nhân đầu mối. Nếu doanh nghiệp không chủ động ký hợp đồng nhập khẩu ethanol hoặc chuẩn bị tốt nguồn cung thì việc triển khai E10 cũng sẽ gặp khó khăn. Tuyết Lan (ghi)

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục