Mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ được đề xuất tăng từ ngày 1.1.2026. Ảnh: Bảo Hân
Mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ được đề xuất tăng từ ngày 1.1.2026. Ảnh: Bảo Hân

Bộ Nội vụ có đề xuất mới về lương tối thiểu vùng từ 1.1.2026

HƯƠNG NHA (báo lao động) 30/09/2025 21:23 (GMT+7)

Bộ Nội vụ điều chỉnh địa bàn vùng áp dụng mức lương tối thiểu của các địa phương nhằm tạo sự cân đối hợp lý về giá nhân công.

Bộ Tư pháp đang thẩm định Dự thảo Nghị định quy định mức lương tối thiểu do Bộ Nội vụ xây dựng trước khi trình Chính phủ phê duyệt.

Dự thảo Nghị định quy định việc điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng 7,2% so với mức hiện hành để áp dụng từ ngày 1.1.2026.

Dự thảo quy định các mức lương tối thiểu tháng theo 4 vùng như sau: Vùng I là 5.310.000 đồng/tháng, vùng II là 4.730.000 đồng/tháng, vùng III là 4.140.000 đồng/tháng, vùng IV là 3.700.000 đồng/tháng.

Mức lương tối thiểu nêu trên tăng từ 250.000 đồng-350.000 đồng (tương ứng tỉ lệ bình quân 7,2%) so với mức lương tối thiểu hiện hành. Mức điều chỉnh lương tối thiểu nêu trên cao hơn khoảng 0,6% so với mức sống tối thiểu của người lao động đến hết năm 2026 để cải thiện cho người lao động.

Đáng chú ý, so với dự thảo lần đầu tiên, sau khi tổng hợp góp ý của các địa phương, Bộ Nội vụ đã đề xuất điều chỉnh lại một số địa bàn áp dụng lương tối thiểu để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.

Trước đó, tại Nghị định số 128/2025 của Chính phủ đã quy định danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu theo đơn vị hành chính cấp xã mới.

Tuy nhiên, sau khi các địa phương vận hành theo đơn vị hành chính cấp tỉnh mới, một số địa bàn áp dụng đã có sự sắp xếp, thay đổi so với thời điểm ban hành Nghị định 128/2025 vào tháng 6.

Đồng thời, Nghị định 128/2025 sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 1.3.2027. Vì vậy, Bộ Nội vụ đề xuất quy định danh mục địa bàn áp dụng mới, trên cơ sở kế thừa danh mục hiện hành quy định tại Nghị định 128, và có sự rà soát, cập nhật theo đề nghị của UBND cấp tỉnh.

Theo đó, sửa tên phường Hoàng Văn Thụ thuộc tỉnh Lạng Sơn thành phường Kỳ Lừa (theo Nghị quyết số 1672/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

Điều chỉnh từ vùng II lên vùng I: Các phường Chu Văn An, Chí Linh, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Lê Đại Hành, Kinh Môn, Nguyễn Đại Năng, Trần Liễu, Bắc An Phụ, Phạm Sư Mạnh, Nhị Chiểu và các xã Nam An Phụ, Nam Sách, Thái Tân, Hợp Tiến, Trần Phú, An Phú, Cẩm Giang, Cẩm Giàng, Tuệ Tĩnh, Mao Điền, Kẻ Sặt, Bình Giang, Đường An, Thượng Hồng, Gia Lộc, Yết Kiêu, Gia Phúc, Trường Tân, Tứ Kỳ, Tân Kỳ, Đại Sơn, Chí Minh, Lạc Phượng, Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Phú Thái, Lai Khê, An Thành, Kim Thành thuộc Thành phố Hải Phòng.

Điều chỉnh từ vùng III lên vùng II: Các phường Hoàng Mai, phường Tân Minh thuộc tỉnh Nghệ An; các phường Đông Hà, Nam Đông Hà thuộc tỉnh Quảng Trị; các phường Phan Rang, Đông Hải, Ninh Chử, Bảo An, Đô Vinh và các xã Thuận Bắc, Công Hải thuộc tỉnh Khánh Hòa; các xã Thanh Hà, Hà Tây, Hà Bắc, Hà Nam, Hà Đông, Ninh Giang, Vĩnh Lại, Khúc Thừa Dụ, Tân An, Hồng Châu, Thanh Miện, Bắc Thanh Miện, Nam Thanh Miện, Hải Hưng thuộc Thành phố Hải Phòng.

Điều chỉnh từ vùng IV lên vùng III: Phường Quảng Trị và các xã Đồng Lê, Vĩnh Linh, Cửa Tùng, Bến Quan, Cửa Việt, Gio Linh, Cam Lộ, Khe Sanh, Lao Bảo, Triệu Phong, Hướng Hiệp, Diên Sanh thuộc tỉnh Quảng Trị; các xã Ninh Sơn, Lâm Sơn, Anh Dũng, Mỹ Sơn, Thuận Nam, Cà Ná, Phước Hà thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Điều chỉnh từ vùng I xuống vùng IV: Các xã Kỳ Thượng, Lương Minh thuộc tỉnh Quảng Ninh. Điều chỉnh từ vùng III xuống vùng IV đối với: các xã Thượng Trạch, Trường Sơn, Kim Ngân thuộc tỉnh Quảng Trị.

Việc điều chỉnh vùng của các địa phương nêu trên nhằm tạo sự cân đối hợp lý về giá nhân công giữa các địa bàn lân cận, do các địa bàn trên có sự phát triển hơn về thị trường lao động, hình thành các khu, cụm công nghiệp, điều kiện cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, giáp với các địa bàn khác có mức lương tối thiểu cao hơn.

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục