Nghị định số 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng. Ảnh: Phạm Đông
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng. Ảnh: Phạm Đông

Chính phủ tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng cho 8 đối tượng

PHẠM ĐÔNG (báo lao động) 23/08/2026 10:11 (GMT+7)

Chính phủ tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1.7.2026 là 540.000 đồng/tháng cho 8 nhóm đối tượng.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội (TGXH).

Nghị định này quy định về chính sách TGXH thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở TGXH.

Mức chuẩn TGXH mới áp dụng từ ngày 1.7.2026 là 540.000 đồng/tháng (quy định cũ là 500.000 đồng).

Nghị định quy định đối tượng TGXH thường xuyên tại cộng đồng bao gồm:

1. Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau:

Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được;

Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở TGXH;

Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở TGXH;

Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở TGXH;

2. Người thuộc diện quy định nêu trên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn thì tiếp tục được hưởng chính sách TGXH cho đến khi kết thúc học.

3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

4. Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi (gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường họp quy định sau đây:

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở TGXH nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

6. Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

7. Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định nêu trên đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục