Người dân tại Lễ tổng duyệt diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9. Ảnh: Hải Nguyễn
Người dân tại Lễ tổng duyệt diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9. Ảnh: Hải Nguyễn

Hạnh phúc, chất lượng sống của nhân dân ở vị trí trung tâm của các chính sách

MI LAN - HOÀNG MINH (báo lao động) 20/03/2026 09:33 (GMT+7)

Để hạnh phúc không chỉ là thông điệp mà thực sự hiện hữu trong đời sống hằng ngày, các chỉ số hạnh phúc cần tiếp tục được nâng lên bằng những hành động đồng bộ, thiết thực hơn từ chính quyền và toàn xã hội.

Những chuyển động tích cực

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20.3 được lấy cảm hứng từ chỉ số tổng hạnh phúc quốc gia (GNH - Gross National Happiness) của Bhutan. Từ năm 1972, Bhutan là quốc gia đầu tiên đưa “hạnh phúc” vào hiến pháp và thay thế GDP bằng GNH.

GNH được đo lường chất lượng cuộc sống qua 4 trụ cột (quản trị, văn hóa, môi trường, bền vững) và 9 lĩnh vực bao gồm sức khỏe tâm lý, mức sống, giáo dục, và sử dụng thời gian...

Bảng xếp hạng đánh giá các quốc gia hạnh phúc thường dựa trên các tiêu chí như: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng, nhận thức về tham nhũng...

Tại Việt Nam, năm 2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổ chức các hoạt động nhân Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20.3 hằng năm. Hạnh phúc từ đó không còn là khái niệm mang tính cảm xúc đơn thuần, mà từng bước trở thành mục tiêu trong hoạch định chính sách và quản trị xã hội. Mọi chính sách phát triển phải lấy con người làm trung tâm, hướng tới sự hài lòng và an sinh thực chất, chứ không chỉ dừng lại ở các chỉ số kinh tế thuần túy.

Trên nền tảng chủ trương này, nhiều chính sách an sinh xã hội của Việt Nam đã được triển khai đồng bộ, góp phần cải thiện đời sống người dân theo từng năm. Đặc biệt trong giai đoạn 2020-2025, với tinh thần xuyên suốt là “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân...

Và đây chính là những tiền đề để báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 ghi nhận Việt Nam đứng thứ 46. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam kể từ khi báo cáo được công bố lần đầu vào năm 2012, tăng 8 bậc so với năm 2024, tăng 19 bậc so với năm 2023 và tăng 50 bậc so với thứ hạng 96 của năm 2016. Sự thăng hạng này phản ánh không chỉ mức sống được cải thiện, mà còn cho thấy niềm tin xã hội, sự ổn định và cảm nhận tích cực của người dân đối với cuộc sống.

Hạnh phúc không trừu tượng

Dĩ nhiên, đằng sau các con số tăng trưởng thì “hạnh phúc” là một khái niệm với khoảng cách khác biệt giữa các nhóm dân cư.

Tại một khu nhà trọ công nhân ở phường Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, khi được hỏi hạnh phúc là gì, chị Nguyễn Thị Hạnh (32 tuổi), công nhân may, chia sẻ: “Với tôi, hạnh phúc đơn giản là có việc làm ổn định, con có chỗ gửi an toàn, cuối ngày còn thời gian nghỉ ngơi. Nhiều khi không cần gì lớn, chỉ cần bớt lo là thấy nhẹ lòng”. Ở một góc khác, anh Trần Văn Dũng (45 tuổi), tài xế công nghệ ở phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nói: “Hạnh phúc nhất, với tôi là ra đường đi làm hàng ngày, đặc biệt là giờ cao điểm không kẹt xe, không phải chen chúc và ngày nào cũng an toàn, không va quẹt giao thông hay có sự cố ngoài ý muốn”. Trong khi đó, bà Lê Thị Lan (58 tuổi), đang điều trị bệnh mãn tính tại một cơ sở y tế ở Đà Nẵng, cho biết: “Hạnh phúc với người bệnh như tôi là được khám chữa bệnh thuận lợi, không phải chờ đợi quá lâu và đặc biệt là viện phí nằm trong khả năng có thể chi trả. Khi đỡ lo viện phí, mình cũng thấy yên tâm hơn”.

Như vậy, hạnh phúc không phải là điều gì trừu tượng. Đó là những nhu cầu rất cụ thể của con người, từ việc làm ổn định, dịch vụ y tế thuận lợi, giao thông thông suốt, môi trường sống an toàn. Không chỉ dừng ở vật chất, nhiều người cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe tinh thần. Áp lực công việc, nhịp sống nhanh, sự cô đơn trong đô thị, hay những căng thẳng kéo dài khiến nhu cầu được nghỉ ngơi, cân bằng cuộc sống, được chia sẻ và kết nối trở nên rõ rệt hơn. Đây là một yếu tố ngày càng quan trọng trong cảm nhận hạnh phúc, nhưng vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ.

Để nâng cao hơn nữa các chỉ số hạnh phúc, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng, mà là nâng chất lượng phát triển một cách toàn diện. Ở lĩnh vực kinh tế, cần tiếp tục tạo việc làm bền vững, nâng thu nhập thực chất, đặc biệt với công nhân và người thu nhập thấp. Các chương trình nhà ở xã hội cần gắn với hạ tầng thiết yếu như trường học, cơ sở y tế, thiết chế văn hóa. Ở lĩnh vực văn hóa, cần xây dựng môi trường sống lành mạnh, thúc đẩy lối sống tích cực, tăng cường các hoạt động cộng đồng, đồng thời quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe tinh thần của người dân. Ở lĩnh vực xã hội, cần tập trung cải thiện trải nghiệm của người dân khi tiếp cận dịch vụ công: Giảm thời gian chờ khám bệnh, nâng chất lượng giáo dục, phát triển giao thông công cộng để giảm ùn tắc và áp lực đô thị.

Những mục tiêu tăng trưởng này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của các cấp chính quyền. Không chỉ dừng lại ở các kế hoạch hay phong trào, mà cần được cụ thể hóa bằng những việc làm có thể đo đếm được, từ một tuyến xe buýt hoạt động hiệu quả hơn, một khu nhà ở công nhân đi kèm trường mầm non, một bệnh viện giảm tải thực sự, một thủ tục hành chính được rút ngắn thời gian. Hay là cảm giác yên tâm về cuộc sống.

Hạnh phúc là chiến lược quốc gia

Đại hội XIV của Đảng đã xác lập mục tiêu phấn đấu từ nay đến 2030, Việt Nam thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới.

Mục tiêu được lên kế hoạch bằng những chiến lược cụ thể mang tầm vóc quốc gia, đặt hạnh phúc, chất lượng sống của nhân dân ở vị trí trung tâm của các chính sách.

Từ Nghị quyết số 306/NQ-CP về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đến Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra những kế hoạch lớn về an sinh xã hội, phát triển dịch vụ y tế, giáo dục, chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8, thu nhập bình quân đầu người tăng cao...

Theo đó, hệ thống xã hội an sinh bền vững, dịch vụ trợ giúp xã hội đa dạng và chuyên nghiệp, kịp thời hỗ trợ và bảo vệ các đối tượng dễ bị tổn thương.

Việc bảo vệ môi trường sống được được đề ra cấp bách. Những kế hoạch đề ra nhằm giữ gìn môi trường sống xanh, sạch, đẹp, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu, quản lý rủi ro thiên tai, để bảo vệ đời sống người dân an toàn trước nguy cơ bão lũ.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nêu rõ định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030 trong đó nhấn mạnh tiếp tục đổi mới tư duy và hành động, lấy quan điểm phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân.

Việt Nam xếp hạng 46 trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc năm 2025. Ảnh: Hải Nguyễn
Việt Nam xếp hạng 46 trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc năm 2025. Ảnh: Hải Nguyễn

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục