Mạnh dạn giao tư nhân, hình thành ngành công nghiệp đường sắt tự chủ
Nhiều đơn vị chủ động điều chỉnh công nghệ, thiết bị đường sắt phù hợp điều kiện và nhu cầu Việt Nam với cơ chế minh bạch cho doanh nghiệp làm đường sắt.
Doanh nghiệp trong nước sẵn sàng tham gia
Chính phủ vừa ký ban hành Nghị định số 319/2025/NĐ-CP, chính thức có hiệu lực từ 1.1.2026, quy định cụ thể tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc được đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ các dự án đường sắt.
Nghị định 319 đánh dấu bước ngoặt chiến lược trong tư duy phát triển hạ tầng của Việt Nam, đó là chuyển từ mô hình “nhập khẩu toàn bộ” sang mô hình “nội địa hóa từng phần, tiến tới làm chủ”.
Quy hoạch mạng lưới đường sắt đến 2050 đặt mục tiêu xây dựng 25 tuyến với tổng chiều dài hơn 6.300km, bao gồm 18 tuyến mới. Riêng các tuyến đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao và đường sắt địa phương sẽ cần tới hàng nghìn toa xe động lực, toa khách và toa hàng mới. Riêng đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, dự kiến phải có 1.100 toa xe EMU (Electric Multiple Unit - Tàu điện nhiều toa tự hành).
Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam (Bộ Xây dựng) Trần Thiện Cảnh thông tin, nhu cầu sản phẩm công nghiệp đường sắt tập trung ở 4 nhóm: Thứ nhất là công nghiệp xây dựng hạ tầng đường sắt. Thứ hai là đầu máy, toa xe. Thứ ba là hệ thống thông tin, tín hiệu. Thứ tư là hệ thống điện sức kéo.
"Thị trường đường sắt Việt Nam đã đủ lớn để các doanh nghiệp trong nước quan tâm, đầu tư phát triển về công nghiệp đường sắt", ông Trần Thiện Cảnh nêu.

Hình thành tập đoàn kinh tế công nghiệp đường sắt
Theo ông Trần Đình Long - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hòa Phát (HPG), Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam là "thời cơ ngàn năm có một" để hình thành ngành công nghiệp đường sắt tại Việt Nam. Thực tế, Trung Quốc bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp đường sắt từ một dự án đầu tiên. Đến nay họ có cả một ngành công nghiệp hoàn chỉnh.
Ông Long nhấn mạnh, làm dự án đường sắt tốc độ cao không chỉ là xây một tuyến đường mà là tạo dựng cả một ngành công nghiệp mới. Với dự án sản xuất ray đường sắt và thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất (Quảng Ngãi) chính thức được khởi công vào ngày 19.12 tới đây, Hòa Phát cam kết có thể cung cấp toàn bộ 10 triệu tấn thép phục vụ đường sắt cao tốc, là sản phẩm chất lượng cao.
Trong khi đó theo Phó Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đèo Cả Nguyễn Minh Giang, để thực hiện mục tiêu tham gia các dự án đường sắt, tập đoàn đã hợp tác với các trường đại học để tuyển sinh đào tạo nhân lực chất lượng cao với mô hình hợp tác gồm đặt hàng tại nguồn và đào tạo tại chỗ, đẩy mạnh đào tạo đội ngũ công nhân, kỹ sư, nhà quản lý.
Đơn vị cũng tổ chức các chương trình công tác nước ngoài, nghiên cứu thực tiễn quá trình đào tạo lĩnh vực đường sắt, đường sắt đô thị, tích cực thúc đẩy hợp tác với các đối tác quốc tế có kinh nghiệm về đường sắt tốc độ cao, như Nhật Bản, Trung Quốc… để chuyển giao công nghệ và các giải pháp kỹ thuật tiên tiến.
PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nêu quan điểm, khi giao dự án lớn cho doanh nghiệp tư nhân đủ năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm không chỉ là tiết kiệm vốn ngân sách nói riêng, nguồn lực quốc gia nói chung, mà quan trọng hơn là tốc độ và hiệu quả.
Ông Thiên cho rằng điều quan trọng là phải đặt ra cơ chế ràng buộc hợp lý để hai bên cùng chia sẻ rủi ro và đảm bảo quyền lợi quốc gia. Cần thiết kế cơ chế quản lý minh bạch, có giám sát, có tiêu chuẩn kỹ thuật, thay vì không cho tư nhân làm.
Tại Đại hội Đảng bộ Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam lần thứ XIII, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà nhấn mạnh nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu, phát triển và làm chủ những công nghệ đường sắt hiện đại, có tính tiên phong.
Xây dựng cơ chế đặc thù, đãi ngộ nhân tài bởi “muốn chuyển đổi số thì cần chuyên gia hàng đầu chuyển đổi số, muốn quy hoạch thì phải có nhà hoạch định chiến lược, quản trị giỏi nhất, muốn thiết kế đoàn tàu thì phải có kỹ sư thiết kế giỏi nhất”.
Mục tiêu là hướng tới hình thành một tập đoàn kinh tế công nghiệp đường sắt mạnh, hình thành hệ sinh thái công nghiệp, dịch vụ, thương mại, phát huy tối đa công năng, hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng.
Đọc bản gốc tại đây