Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời kiến nghị về thừa kế quyền sử dụng đất
Bộ Nông nghiệp và Môi trường có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa về thừa kế quyền sử dụng đất.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa với nội dung: “Đề nghị xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ Luật Dân sự và pháp luật về đất đai liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất theo hướng điều chỉnh thời hiệu khởi kiện cho phù hợp, đồng thời xem xét đầy đủ yếu tố quản lý, sử dụng đất ổn định, lâu dài, công sức đóng góp và nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ, nhằm hạn chế tranh chấp, giữ gìn đạo lý gia đình và bảo đảm ổn định xã hội ở cơ sở”.
Về kiến nghị này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến như sau:
Tại khoản 5 Điều 23 Luật Đất đai quy định về quyền của công dân đối với đất đai, trong đó có quyền nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tại khoản 1 Điều 27 Luật Đất đai quy định:
“Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan”.
Tại điểm c khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai quy định: “c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự” và tại điểm đ khoản 1 Điều 37 Luật Đất đai quy định: “đ) Cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật…”.
Đồng thời, tại khoản 4 Điều 45 Luật Đất đai quy định trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Luật này.
Tại khoản 3 Điều 150 Bộ Luật Dân sự đã quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Đồng thời, Bộ Luật Dân sự đã quy định rõ cách tính thời hiệu, hiệu lực của thời hiệu, tính liên tục của thời hiệu, bắt đầu thời hiệu khởi kiện... (Chương X mục 2 từ Điều 151 đến Điều 157). Việc phân chia thừa kế tài sản, trong đó có tài sản là quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Phần thứ tư Bộ Luật Dân sự (từ Điều 609 đến Điều 662), theo đó Bộ Luật Dân sự đã có quy định chung về thừa kế (Chương XXI từ Điều 609 đến Điều 623), quy định về thừa kế theo di chúc (Chương XXII từ Điều 624 đến Điều 648), quy định về thừa kế theo pháp luật (Chương XXIII từ Điều 649 đến Điều 655) và thanh toán và phân chia di sản (Chương XXIV từ Điều 656 đến Điều 662).
Như vậy, pháp luật về đất đai không quy định thời hiệu khởi kiện và việc phân chia thừa kế quyền sử dụng đất; trên cơ sở việc phân chia thừa kế theo quy định của Bộ Luật Dân sự thì người được nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện việc đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai. Thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp và việc đóng góp, nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ trên cơ sở tự nguyện cam kết, tự thoả thuận, tự chịu trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
Đọc bản gốc tại đây