Cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (tranh của Nguyễn Đức Nùng).
Cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (tranh của Nguyễn Đức Nùng).

Từ Hội phản đế đồng minh đến sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Minh Quang (báo lao động) 22/09/2025 09:10 (GMT+7)

Khi nhìn lại chặng đường cách mạng Việt Nam, chúng ta thấy rõ một sự thật lịch sử: Mọi bước ngoặt lớn lao của dân tộc đều gắn liền với vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, việc thành lập Hội phản đế đồng minh ngày 18.11.1930 - tổ chức tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay - là minh chứng sinh động cho tầm nhìn chiến lược và khả năng tập hợp đại đoàn kết dân tộc của Đảng.

Điều 9 Hiến pháp ghi rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân đến các cơ quan nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điều này khẳng định vai trò to lớn của Đảng trong việc tập hợp, lãnh đạo quần chúng nhân dân trong suốt chiều dài cách mạng gần 100 năm qua.

Đặt nền móng từ Luận cương chính trị 1930

Tháng 2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay trong “Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt”, Đảng đã vạch ra yêu cầu phải tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ngay từ Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã vạch ra sự cần thiết phải xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh mọi nhân tố của dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp chung giải phóng dân tộc.

Đến tháng 10.1930, trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới và Đông Dương, đặc biệt là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (cao trào là tháng 9.1930), bản luận cương chính trị ra đời nêu rõ tính chất của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền.

“Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được” - Luận cương nêu. Luận cương chính trị khẳng định, cách mạng Đông Dương phải có một Đảng Cộng sản vững mạnh lãnh đạo.

Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chánh trị đúng, có kỷ luật tập trung mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đồng thời, bản Luận cương còn chỉ rõ: Muốn giành được thắng lợi Đảng phải thu phục được đông đảo quần chúng lao động bằng cách tổ chức ra các đoàn thể cách mạng như Công hội, Nông hội...

Nhận thức này mở đường cho việc hình thành một mặt trận dân tộc thống nhất - nơi quy tụ sức mạnh toàn dân.

Chính vì thế, tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (10.1930) đã bàn thảo, thông qua nhiều văn kiện quan trọng, trong đó có Án nghị quyết về vấn đề phản đế. Nghị quyết khẳng định: Đông Dương có nhiều lực lượng phản đế, cần liên hiệp lại thành một phong trào cách mạng thống nhất để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa. Đây chính là phác thảo đầu tiên cho nguyên tắc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất.

Hội phản đế đồng minh ra đời - tổ chức tiền thân của Mặt trận Tổ quốc

Từ những quyết sách mang tính chiến lược ấy, chỉ hơn một tháng sau, ngày 18.11.1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh. Chỉ thị do Tổng Bí thư Trần Phú trực tiếp ký, đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong nhận thức và tổ chức của Đảng về công tác Mặt trận. Sau này, ngày 18.11 hằng năm được chọn là Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc.

Hội phản đế đồng minh có mục tiêu tập hợp các lực lượng công - nông, thanh niên, phụ nữ, học sinh, binh lính và cả một số đảng phái cách mạng khác, kể cả những người thuộc tầng lớp hữu sản nhưng có tinh thần yêu nước. Điều lệ Hội xác định rõ: Đoàn kết mọi lực lượng phản đế để đánh đổ đế quốc, giành độc lập hoàn toàn cho Đông Dương, đồng thời bênh vực phong trào giải phóng ở các thuộc địa.

Trong bối cảnh kẻ thù khủng bố gắt gao, phương tiện đi lại hạn chế, việc triệu tập, tổ chức một mặt trận thống nhất là vô cùng khó khăn. Song nhờ sự chỉ đạo sáng tạo của Đảng, Hội phản đế đồng minh đã ra đời, trở thành tổ chức chính trị đầu tiên tập hợp rộng rãi các tầng lớp yêu nước, mở đường cho sự phát triển của các hình thức mặt trận sau này.

Nếu không có Luận cương chính trị và Nghị quyết phản đế, sẽ không có cơ sở lý luận cho việc thành lập Hội phản đế đồng minh. Đảng đã xác định rõ kẻ thù chính, đồng thời vạch ra con đường tập hợp lực lượng, phân hóa các giai cấp, đưa phong trào cách mạng vào quỹ đạo thống nhất.

Đáng chú ý, ngay từ thuở đầu, công tác Mặt trận không phải là hoạt động tự phát mà nằm trong chiến lược tổng thể của Đảng. Tổng Bí thư Trần Phú cùng Ban Chấp hành Trung ương đã trực tiếp chuẩn bị, ban hành Chỉ thị thành lập Hội.

Hội phản đế đồng minh không chỉ kêu gọi đoàn kết mà còn đề ra chương trình hành động cụ thể: Tham gia đấu tranh hằng ngày của công - nông, tổ chức tuyên truyền công khai trong quần chúng. Đây là sự gắn kết giữa mục tiêu chiến lược và hành động thực tiễn, nhờ đó phong trào cách mạng có sức lan tỏa sâu rộng.

Sự ra đời của Hội phản đế đồng minh đã mở ra một giai đoạn mới cho phong trào cách mạng Việt Nam. Dù còn nhiều hạn chế - như phạm vi tập hợp chưa thật rộng, chưa đề cập mạnh mẽ yếu tố yêu nước chung của toàn dân - nhưng Hội đã đặt viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà đại đoàn kết dân tộc.

Sự kiện thành lập Hội phản đế đồng minh có ý nghĩa đặc biệt khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng với nhận thức sâu sắc sức mạnh cách mạng bắt nguồn từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, việc ra đời Hội phản đế đồng minh tại tiền đề để ra đời các hình thức của Mặt trận như Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936), Mặt trận Việt Minh (1941), Mặt trận Liên Việt (1946), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955) và đặc biệt tạo tiền đề cho khối đại đoàn kết dân tộc.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục