Học tập tinh thần lý luận đi đôi với thực tiễn của Hồ Chí Minh nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn
Việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là yêu cầu tất yếu trong công tác công đoàn. Hơn nữa, chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành những giải pháp thiết thực không chỉ là một thách thức mà còn là trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng và để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, đó chính là hệ thống quan điểm, tư tưởng của Người trên nhiều lĩnh vực, trong đó có quan điểm về “gắn lý luận với thực tiễn” - một nguyên tắc cốt lõi trong hoạt động cách mạng, học tập và nghiên cứu. Đặc biệt, đối với tổ chức Công đoàn Việt Nam – tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, việc học tập tinh thần “lý luận đi đôi với thực tiễn” không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn là kim chỉ nam cho việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành những giải pháp cụ thể, hiệu quả đối với hoạt động công đoàn trong bối cảnh mới hiện nay, góp phần xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[1]. Theo Người, lý luận chỉ thực sự có giá trị khi nó được thử nghiệm và chứng minh qua thực tiễn. Ngược lại, thực tiễn cũng cần được soi sáng bằng lý luận để tránh rơi vào tình trạng mò mẫm, tự phát. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của việc tổng kết thực tiễn, học hỏi kinh nghiệm quần chúng và không ngừng cải tiến trên cơ sở vận dụng lý luận một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể.
Lý luận gắn liền với thực tiễn tức là trong lúc học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế để có kinh nghiệm từ thực tế. Như vậy, mới tìm ra phương hướng chính trị đúng để làm tốt công việc, đó mới là lý luận thiết thực, có ích, nếu không như thế là lý luận suông, vô ích, ví dụ: “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình thế nào để làm cho đúng”[2]. Qua đó, có thể thấy, cùng với phương châm lý luận thống nhất với thực tiễn, cần nắm vững quan điểm thực tiễn để giải đáp những vấn đề do thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra hiện nay. Cách mạng giải phóng dân tộc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội giành được thắng lợi do nhiều nhân tố, trong đó cần phải nhấn mạnh rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm vững và vận dụng tốt nhận thức phương pháp luận mácxít về cách mạng là sáng tạo, chân lý là cụ thể, thực tiễn là thước đo chân lý. Đó là bài học sâu sắc để tổ chức Công đoàn Việt Nam vận dụng tư tưởng của Người trong việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động công đoàn, góp phần nâng cao chất lượng, khẳng định vị thế là tổ chức sâu rộng của giai cấp công nhân và người lao động.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động công đoàn
Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách”[3]. Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp, trong đó nhấn mạnh phải: “Phát huy dân chủ trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; tôn trọng tính sáng tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà khoa học, tăng cường trao đổi, đối thoại trong nghiên cứu lý luận. Ðổi mới cơ chế và tăng cường đầu tư cho tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận”. Các quan điểm trên cho thấy tầm quan trọng trong mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, nó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học phải luôn quan tâm, thực hành thường xuyên. Đây chính là sự cụ thể hóa và vận dụng quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận gắn với thực tiễn, qua đó nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực sự hiệu quả, thiết thực trong việc học tập, nghiên cứu, vận dụng lý luận vào thực tiễn.
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động nghiên cứu của tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực như: lao động, việc làm, tiền lương, phúc lợi xã hội, đào tạo nghề, chăm lo đời sống tinh thần cho đoàn viên… Đây là những vấn đề nóng, cấp bách, quyết định đến chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn cũng như tác động sâu rộng đến trực tiếp đời sống của người lao động. Trên cơ sở đó, trong những năm qua, Viện Nghiên cứu chiến lược và Tạp chí Lao động – Công đoàn với vai trò là một Viện nghiên cứu hàng đầu, chuyên sâu về lĩnh vực công nhân lao động và công đoàn đã đề xuất Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, đồng thời phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương, chủ trì và tham gia tổ chức nghiên cứu các vấn đề về lý luận, thực tiễn về công nhân, lao động và công đoàn, có thể kể đến một số đề tài, đề án: Sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước; Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí và quy trình đánh giá hoạt động công đoàn cấp tỉnh, ngành Trung ương phục vụ công tác thi đua, khen thưởng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Nghiên cứu hệ thống lý luận về giai cấp công nhân và công đoàn phục vụ nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới; Nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định mức sống tối thiểu làm cơ sở đề xuất mức lương tối thiểu cho người lao động – tính và công bố mức sống tối thiểu của Công đoàn Việt Nam; Tình hình việc làm, thu nhập, đời sống, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, lao động; Phân biệt đối xử với người lao động, cán bộ công đoàn ở cơ sở vì lý do công đoàn – Thực trạng và giải pháp…
Các nghiên cứu trên là cơ sở tiền đề, đóng góp cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc hoạch định, xây dựng và ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, tham gia đóng góp các ý kiến với Đảng, Nhà nước về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đối với công nhân, lao động, nổi bật là Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Thi đua - Khen hưởng, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Nhà ở; các chính sách, pháp luật liên quan đến mức lương tối thiểu việc làm bền vững, nâng cao mức sống, cải thiện điều kiện làm việc công tác an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường và phòng, chống đại dịch Covid-19 tại nơi làm việc,…
Tuy nhiên, khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn vẫn còn tồn tại một số bất cập. Nếu không có cơ chế và phương pháp chuyển hóa hiệu quả, các công trình nghiên cứu sẽ trở nên xa rời thực tiễn, lãng phí nguồn lực và không đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của đoàn viên, người lao động và của chính tổ chức công đoàn.
Dựa trên tinh thần “lý luận gắn với thực tiễn”, có thể vận dụng một số định hướng sau góp phần chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động công đoàn:
Thứ nhất, tổ chức nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế của người lao động. Đây là cách thức để đảm bảo nội dung nghiên cứu gắn với thực tiễn đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người lao động.
Thứ hai, thành lập các nhóm kết nối giữa nhà nghiên cứu – cán bộ công đoàn – đoàn viên để đảm bảo vòng phản hồi hai chiều giữa lý luận và thực tiễn.
Thứ ba, đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm ở quy mô nhỏ trước khi nhân rộng, nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi.
Thứ tư, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, tạo thành chu trình cải tiến liên tục, đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân.”
Một số giải pháp góp phần chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành những giải pháp thiết thực cho tổ chức công đoàn
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, của Công đoàn Việt Nam trong việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn,
Hai là, thường xuyên tổ chức hội thảo, tọa đàm chuyên đề để các nhà nghiên cứu, cán bộ công đoàn chia sẻ kết quả và kinh nghiệm giữa lý luận và thực tiễn.
Ba là, xây dựng kho dữ liệu số về các nghiên cứu ứng dụng thực tiễn thành công có thể tham khảo và nhân rộng.
Bốn là, tích hợp nội dung nghiên cứu vào quá trình đào tạo cán bộ công đoàn.
Năm là, tổ chức đánh giá định kỳ hiệu quả của các chính sách từ kết quả nghiên cứu, qua đó cải tiến hơn nữa chất lượng nghiên cứu.
Việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là yêu cầu tất yếu trong công tác công đoàn nói chung và công tác nghiên cứu khoa học nói riêng hiện nay. Chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành những giải pháp thiết thực không chỉ là một thách thức mà còn là trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
"Tham luận tại hội nghị chuyên đề: Quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn"