Người thi hành công vụ cố ý gây thiệt hại nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự được đề xuất phải hoàn trả từ 30-50 tháng lương. Ảnh minh họa: Hải Nguyễn
Người thi hành công vụ cố ý gây thiệt hại nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự được đề xuất phải hoàn trả từ 30-50 tháng lương. Ảnh minh họa: Hải Nguyễn

Đề xuất cán bộ cố ý gây thiệt hại phải hoàn trả 30-50 tháng lương

TƯỜNG VÂN (báo lao động) 04/08/2026 08:20 (GMT+7)

Người thi hành công vụ cố ý gây thiệt hại nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, được đề xuất phải hoàn trả từ 30-50 tháng lương.

Đề xuất cán bộ cố ý gây thiệt hại hoàn trả từ 30-50 tháng lương

Nội dung trên được quy định tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Dự thảo được trình Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất ngày 3.8.

Dự thảo luật quy định người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả, tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường;

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được trình Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất sáng 3.8. Ảnh: Media Quốc hội
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được trình Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất sáng 3.8. Ảnh: Media Quốc hội

Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định giảm mức hoàn trả nhưng tối đa là 30% trên tổng số tiền phải hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại có đủ các điều kiện: Chủ động khắc phục hậu quả; Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả; Người thi hành công vụ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Bên cạnh đó, thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định miễn hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý và thuộc một trong các trường hợp sau: Thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật; Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn; Lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Đề xuất 14 trường hợp Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Dự thảo luật quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

1. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;

2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;

3. Áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính sau đây trái pháp luật: Buộc phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;

4. Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;

5. Áp dụng một trong các biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật;

6. Không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của Luật Tố cáo và pháp luật khác có liên quan;

7. Cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin;

8. Cấp, thu hồi, hủy bỏ, không cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trái pháp luật;

9. Thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế;

10. Áp dụng thủ tục hải quan trái pháp luật;

11. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư trái pháp luật; cấp, không cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trái pháp luật;

12. Ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật;

13. Cấp văn bằng bảo hộ khi có căn cứ pháp luật cho rằng người nộp đơn không có quyền nộp đơn hoặc có căn cứ pháp luật cho rằng đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ; từ chối cấp văn bằng bảo hộ với lý do đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật; chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật;

14. Ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức giữ chức vụ dưới Thứ trưởng và dưới tương đương Thứ trưởng.

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục