Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam - Ấn Độ: Biến ý chí thành kết quả cụ thể
Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ, hai bên nhất trí nâng tầm quan hệ lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường”.
Việt Nam - Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 7.1.1972. Tháng 7.2007, hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược. Tới tháng 9.2016, hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện - tầm cao nhất trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới.
Nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5 đến ngày 7.5. Trong cuộc trao đổi, hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh, việc làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước, với Ấn Độ là “tầm nhìn Ấn Độ phát triển vào năm 2047” và “mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao đến năm 2045”.
Điểm 4 trong Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Tăng cường giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Ấn Độ nêu rõ: “Hai lãnh đạo chia sẻ quan điểm về những diễn biến mang tính bước ngoặt trong cục diện khu vực và toàn cầu, khẳng định nền tảng vững chắc của quan hệ hai nước dựa trên sự tin cậy, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, tầm nhìn chung và hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí tiếp tục nâng tầm quan hệ song phương Việt Nam - Ấn Độ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường trên tinh thần “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất”, với mong muốn biến ý chí thành kết quả cụ thể”.
Theo toàn văn tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường gồm 52 điểm, quan hệ “Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường” Việt Nam - Ấn Độ có các lĩnh vực tăng cường hợp tác bao gồm: Hợp tác Chính trị (điểm 3-8), Hợp tác Kinh tế, Thương mại và Đầu tư (điểm 9 -15), Hợp tác Y tế (điểm 16, 17), Hợp tác Quốc phòng và An ninh (điểm 18-27), Hợp tác Hàng hải (điểm 28, 29), Hợp tác Khoa học và Công nghệ, bao gồm các công nghệ then chốt và công nghệ mới nổi (điểm 30-35), Hợp tác Phát triển (điểm 36-38), Hợp tác Văn hóa, Du lịch và Giao lưu nhân dân (điểm 39-45), Hợp tác Khu vực và Quốc tế (điểm 46-51).
Theo thông tin từ tóm tắt luận án tiến sĩ “Quá trình Việt Nam đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu từ 2006 đến 2023” của nhà nghiên cứu Trần Chí Trung (Học viện Ngoại giao) được đăng tải trên website của Học viện Ngoại giao: Trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, thường phân định ra thành 4 cấp độ từ thấp đến cao lần lượt là: Đối tác (Partnership) - Đối tác Toàn diện (Comprehensive partnership) - Đối tác Chiến lược (Strategic partnership) và mức cao nhất là Đối tác Chiến lược Toàn diện (Comprehensively strategic partnership).
Trong đó, đối tác (Partnership) là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn và chiến lược (Strategic), nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian: (1) Đối tác Toàn diện - Comprehensive partnership là một mối quan hệ hợp tác rộng và đa lĩnh vực, nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai bên trong nhiều lĩnh vực và phục vụ mục tiêu phát triển của cả hai quốc gia. (2) Đối tác Chiến lược - Strategic Partnership là một mối quan hệ hợp tác quan trọng, có tính chất cùng hướng đến mục tiêu cụ thể và mong muốn quan hệ lâu dài. (3) Đối tác Chiến lược Toàn diện là một cấp độ cao hơn của Đối tác Chiến lược.
Tài liệu này cũng lưu ý: Không có quốc gia hoặc tổ chức nào đã công bố chính thức về nội dung và điều kiện thiết lập một Đối tác Chiến lược Toàn diện. Dựa trên thực tiễn của các mạng lưới Đối tác Chiến lược trên toàn cầu, có thể đưa ra một số tiêu chí và điều kiện cơ bản để xác định Đối tác Chiến lược Toàn diện như sau: Có xác nhận chính thức, tiến hóa từ Đối tác Chiến lược, có sự tham gia và ràng buộc của các cấp lãnh đạo và có gắn kết lợi ích lâu dài.
Đọc bản gốc tại đây