Khung số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
Chính phủ quy định khung số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; của người đứng đầu phòng thuộc đơn vị sự nghiệp công lập.
Nội dung này được nêu trong Nghị định số 299/2026/NĐ-CP ngày 28.7.2026 của Chính phủ quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị định quy định đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên: Số lượng cấp phó được thực hiện theo đề án thành lập (trong trường hợp thành lập mới) hoặc đề án tự chủ của đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: Số lượng cấp phó của các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ được bố trí bình quân không quá 3 người trên một đơn vị.
Đối với phòng thuộc đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên: Số lượng cấp phó thực hiện theo đề án thành lập (trong trường hợp thành lập mới) hoặc đề án tự chủ của đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với phòng thuộc đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: Có số lượng người làm việc được giao từ 7 đến 9 người được bố trí 1 Phó Trưởng phòng; có số lượng người làm việc được giao từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 Phó Trưởng phòng.
Đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại theo các tiêu chí sau:
- Vị trí pháp lý của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định;
- Cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo ngành, lĩnh vực, gồm: giáo dục và đào tạo; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác (nông nghiệp và môi trường; tài chính; xây dựng; công thương; nội vụ; tư pháp và các lĩnh vực khác); cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đa ngành, đa lĩnh vực;
- Cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo tính chất nhiệm vụ, gồm: Dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội, dịch vụ sự nghiệp công hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước;
- Mức độ tự chủ tài chính theo quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Tiêu chí xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
- Nhóm tiêu chí về quy mô tổ chức, khối lượng công việc;
- Nhóm tiêu chí về cơ cấu, trình độ lao động và độ phức tạp quản lý;
- Nhóm tiêu chí về hạ tầng cơ sở vật chất, mức độ hiện đại hóa (tài sản, trang thiết bị, phương tiện làm việc) và mức độ số hóa (ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và hạ tầng dữ liệu);
- Nhóm tiêu chí về hiệu quả hoạt động (đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, đánh giá định kỳ mức độ hài lòng của người dân, ứng dụng công nghệ số để người dân trực tiếp đánh giá chất lượng, hiệu quả, mức độ hài lòng đối với các dịch vụ sự nghiệp công) và hiệu quả quản lý tài chính, mức độ tự chủ tài chính;
- Các nhóm căn cứ khác theo đặc thù của từng ngành, lĩnh vực (nếu có).
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 28.7.2026.
Đọc bản gốc tại đây