Bỏ chênh lệch hưởng trợ cấp thất nghiệp giữa khu vực công và tư
Luật Việc làm 2025 đã thống nhất trần hưởng trợ cấp thất nghiệp giữa khu vực nhà nước và doanh nghiệp nhằm đảm bảo công bằng giữa các nhóm lao động.
Thống nhất trần hưởng trợ cấp thất nghiệp
Luật Việc làm 2013 quy định 2 cách tính trần mức hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) tối đa tùy theo nhóm đối tượng: Không quá 5 lần mức lương cơ sở/tháng đối với người lao động hưởng lương theo chế độ Nhà nước; Không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng/tháng đối với người lao động hưởng lương do doanh nghiệp quyết định.
Do mức lương cơ sở thường thấp hơn đáng kể so với lương tối thiểu vùng, điều này đã tạo ra sự chênh lệch lớn về quyền lợi giữa 2 nhóm lao động.
Luật Việc làm 2025 đã xóa bỏ sự khác biệt này bằng cách thống nhất một công thức tính chung tại khoản 1, Điều 39.
Theo đó, mức hưởng tối đa cho tất cả người lao động sẽ không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
Liên quan đến nội dung này, ông Trần Tuấn Tú - Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), cho biết trước đây pháp luật đã quy định trần đóng bảo hiểm đối với từng khu vực.
Theo ông Tú, với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, mức trần đóng tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở. Riêng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) theo Luật Việc làm năm 2013 có sự phân biệt giữa 2 khu vực.
Đối với khu vực hưởng lương do doanh nghiệp quyết định, nếu tiền lương của người lao động cao hơn 20 lần mức lương tối thiểu vùng thì mức đóng tối đa được tính bằng 20 lần mức lương tối thiểu vùng. Trong khi đó, khu vực hưởng lương theo chế độ Nhà nước áp dụng mức trần đóng bằng 20 lần mức lương cơ sở.
Tuy nhiên, trên thực tế, trong khu vực hành chính, sự nghiệp rất ít trường hợp đạt tới mức 20 lần lương cơ sở do cơ chế trả lương theo hệ số. Điều này dẫn tới khác biệt về trần đóng và trần hưởng giữa các khu vực.
Ông Tú cho rằng khi đã quy định trần đóng thì cần có trần hưởng, bởi bảo hiểm thất nghiệp mang tính chia sẻ rủi ro, cần có giới hạn để vừa hỗ trợ người lao động, vừa tạo động lực quay lại thị trường lao động.
“Mức hưởng TCTN hiện được thiết kế khoảng 60% tiền lương, phù hợp với thông lệ quốc tế và khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Nếu hỗ trợ tới 100% tiền lương sẽ không tạo động lực để người lao động quay lại làm việc” - ông Tú nói.
Khuyến khích lao động chủ động tìm việc mới
Theo ông, chính sách được thiết kế ở mức hỗ trợ cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động trong giai đoạn mất việc nhưng vẫn khuyến khích họ chủ động tìm việc mới để có thu nhập cao hơn.
Trong Luật Việc làm năm 2025, quy định về trần đóng đã được thống nhất giữa khu vực nhà nước và ngoài nhà nước. Theo đó, nếu tiền lương cao hơn 20 lần mức lương tối thiểu vùng thì mức đóng tối đa được tính bằng 20 lần mức lương tối thiểu vùng.
Tương ứng, trần hưởng TCTN cũng được thống nhất theo trần đóng, với mức tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng.
Theo ông Tú, quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc chia sẻ rủi ro, đồng thời việc hưởng vẫn dựa trên thời gian đóng và mức đóng nhưng có giới hạn nhất định để kiểm soát khả năng chi trả của quỹ.

“Việc thống nhất trần đóng và trần hưởng giúp đảm bảo công bằng giữa các khu vực. Người lao động có thu nhập cao hơn sẽ được hưởng mức trợ cấp cao hơn, nhưng vẫn trong giới hạn nhất định” - ông cho biết.
Ông Tú dẫn ví dụ, tại Hà Nội, mức lương tối thiểu vùng hiện khoảng hơn 5 triệu đồng/tháng, nên mức TCTN tối đa có thể lên tới khoảng 25 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, mức tiền lương bình quân đóng BHTN phổ biến hiện chỉ khoảng trên 6 triệu đồng/tháng.
Theo ông, điều này cho thấy mức trần hưởng hiện nay tương đối phù hợp với mặt bằng thu nhập chung, dù TCTN chỉ là khoản hỗ trợ ngắn hạn khi người lao động gặp rủi ro mất việc.
“Chính sách được xây dựng trên cơ sở tính toán theo mặt bằng chung của số đông, đồng thời vẫn bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ rủi ro” - ông Tú nhấn mạnh.
Đọc bản gốc tại đây