Công nghiệp công nghệ số phấn đấu đạt doanh thu tối thiểu 300 tỉ USD vào 2030
Đến năm 2030 doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỉ USD và đến năm 2045 là trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực.
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13.5.206 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số (CNS) giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045 (Chương trình).
Chương trình nêu rõ việc phát triển công nghiệp CNS với tinh thần "Make in Viet Nam" - sáng tạo tại Việt Nam, làm ra tại Việt Nam để dẫn dắt; doanh nghiệp Việt Nam làm chủ công nghệ, chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ CNS, làm chủ thị trường trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh, dẫn dắt để vươn ra toàn cầu.
Chương trình phấn đấu đến năm 2030, doanh thu ngành công nghiệp CNS đạt tối thiểu 300 tỉ USD; tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành trong giai đoạn 2026-2030 đạt mức từ 12% trở lên.
Doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ CNS của doanh nghiệp CNS Việt Nam đạt tối thiểu 55 tỉ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 30%/năm.
Phấn đấu đạt 100.000 doanh nghiệp CNS; đào tạo và phát triển đội ngũ trên 3 triệu nhân lực công nghiệp CNS.
Hình thành 16 - 20 khu CNS tập trung, trong đó tối thiểu có 1 khu CNS tập trung quy mô lớn, phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển của vùng kinh tế trọng điểm; hình thành ít nhất 1 Trung tâm tính toán hiệu năng cao dùng chung để giải quyết nhiệm vụ, bài toán lớn, hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ CNS trọng điểm.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành công nghiệp CNS phát triển, là trung tâm công nghiệp CNS hàng đầu khu vực và vươn lên nhóm dẫn đầu thế giới; công nghiệp CNS trở thành ngành kinh tế chủ đạo, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và thịnh vượng quốc gia.
Để đạt được mục tiêu trên, chương trình đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về công nghiệp CNS; thúc đẩy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ CNS; phát triển doanh nghiệp CNS.
Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp CNS; phát triển hạ tầng công nghiệp CNS hiện đại, đồng bộ; thúc đẩy, xúc tiến đầu tư cho hoạt động công nghiệp CNS; phát triển thị trường và chuỗi cung ứng công nghiệp CNS.
Phát triển bền vững công nghiệp CNS; xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu công nghiệp CNS; hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn.
Để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ CNS, chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ CNS; triển khai các dự án nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, dịch vụ CNS, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn theo quy định pháp luật; hỗ trợ, phát triển sản phẩm, dịch vụ CNS trọng điểm.
Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp CNS nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ CNS; hỗ trợ doanh nghiệp CNS áp dụng các quy trình quản lý chất lượng tiên tiến theo chuẩn quốc tế để nâng cao uy tín sản phẩm, dịch vụ CNS "Make in Viet Nam"; triển khai các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp CNS vươn ra thị trường quốc tế.
Đọc bản gốc tại đây