Nhiều thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính trong việc quyết định xuất, nhập hàng dự trữ quốc gia. Ảnh: Mỹ Ly
Nhiều thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính trong việc quyết định xuất, nhập hàng dự trữ quốc gia. Ảnh: Mỹ Ly

Những tình huống Bộ trưởng Bộ Tài chính được quyết định xuất, nhập hàng dự trữ quốc gia

ANH HUY (báo lao động) 22/07/2026 08:12 (GMT+7)

Bộ trưởng Bộ Tài chính có thẩm quyền quyết định nhập hàng dự trữ quốc gia trong các tình huống như khi giá cả thị trường, nguồn hàng hoá tăng, giảm đột biến...

Từ đầu tháng 7.2026, Luật Dự trữ Quốc gia chính thức có hiệu lực. Luật này quy định việc hình thành, quản lý, sử dụng dự trữ quốc gia và quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia.

Đáng chú ý, Luật này dành 1 Chương về quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia.

Trong đó quy định rõ thẩm quyền quyết định nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Việc quyết định nhập dự trữ quốc gia của Bộ trưởng Bộ Tài chính trong các tình huống như: Nhập hàng dự trữ quốc gia do tổ chức, cá nhân tự nguyện đóng góp cho Nhà nước thực hiện mục tiêu dự trữ quốc gia; khi giá cả thị trường, nguồn hàng hoá tăng, giảm đột biến.

Bộ trưởng Bộ Tài chính có thẩm quyền về xuất hàng dự trữ quốc gia trong các tình huống như: Phục vụ hoạt động của Đảng và Nhà nước; khi giá cả thị trường, nguồn hàng hoá tăng, giảm đột biến.

Hay xuất hàng dự trữ quốc gia trong trường hợp chưa có trong kế hoạch hoặc ngoài tình huống quy định; Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao quản lý hàng dự trữ quốc gia không có, không đủ hàng dự trữ quốc gia để xuất cấp theo mục tiêu quy định.

Chính phủ quy định chi tiết về thẩm quyền quyết định nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Luật này cũng quy định thẩm quyền quyết định nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia.

Theo đó, nhập hàng dự trữ quốc gia trong các tình huống như nhập hàng dự trữ quốc gia theo kế hoạch hàng dự trữ quốc gia; nhập hàng dự trữ quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính theo quy định.

Hay nhập hàng dự trữ quốc gia đối với số lượng hàng khi kiểm kê thực tế lớn hơn so với sổ kế toán.

Còn xuất hàng dự trữ quốc gia trong các tình huống sau: xuất hàng dự trữ quốc gia theo kế hoạch hàng dự trữ quốc gia; xuất cấp hàng dự trữ quốc gia trong tình huống đột xuất, cấp bách quy định tại Luật này; xuất tiêu hủy hàng dự trữ quốc gia.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia có thẩm quyền điều chuyển nội bộ hàng dự trữ quốc gia trong các trường hợp sau:

Bảo đảm an toàn, phù hợp điều kiện về kho hàng, bảo quản hàng dự trữ quốc gia; ra khỏi vùng bị thiên tai, hỏa hoạn hoặc không an toàn; đến nơi cần thiết để sẵn sàng phục vụ các nhiệm vụ phát sinh, phục vụ hoạt động của Đảng và Nhà nước; do yêu cầu cần thiết của công tác kiểm kê, bàn giao, thanh tra, điều tra.

Ngoài ra, quyết định tạm xuất hàng dự trữ quốc gia để thực hiện mục tiêu quy định theo Luật này. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ phải thu hồi hoặc xuất cấp, xuất bán và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Chính phủ quy định chi tiết các nội dung trên; quy định nội dung, trình tự, thủ tục quyết định nhập, xuất, tạm xuất, thu hồi hàng dự trữ quốc gia.

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục