Theo quy định hiện hành, thời gian đóng BHXH tối thiểu hưởng lương hưu là 15 năm. Ảnh: Hải Nguyễn
Theo quy định hiện hành, thời gian đóng BHXH tối thiểu hưởng lương hưu là 15 năm. Ảnh: Hải Nguyễn

Phản hồi góp ý giảm thời gian đóng BHXH xuống dưới 15 năm vẫn nhận lương hưu

XUYÊN ĐÔNG (báo lao động) 17/07/2026 15:30 (GMT+7)

Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi nhận được nhiều ý kiến đóng góp. Trong đó, nhiều đơn vị góp ý sửa quy định về chế độ lương hưu.

Góp ý về chế độ hưu trí, UBND tỉnh Lạng Sơn đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu lộ trình rút ngắn thời gian đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu xuống dưới 15 năm nhằm tạo điều kiện cho người lao động tham gia muộn có cơ hội được hưởng lương hưu.

Tuy nhiên, Bộ Nội vụ cho biết việc điều chỉnh cần được xem xét, đánh giá trên cơ sở khả năng cân đối Quỹ BHXH.

Đồng thời, thời gian đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu vừa được điều chỉnh từ 20 năm xuống còn 15 năm. Do đó, cần có thời gian để đánh giá tác động của chính sách đối với khả năng cân đối Quỹ BHXH.

Trước đó, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho biết, một trong những điểm cải cách của Luật BHXH năm 2024 là giảm điều kiện về số năm đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống còn 15 năm.

Theo BHXH Việt Nam, quy định này tạo điều kiện cho những người tham gia BHXH muộn, như người bắt đầu làm việc ở độ tuổi từ 45 đến 50, hoặc người lao động có quá trình đóng BHXH không liên tục, vẫn có cơ hội được hưởng chế độ hưu trí.

Thay vì nhận BHXH một lần, người lao động có thể tiếp tục tham gia để đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng và được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định.

Theo số liệu thống kê của BHXH Việt Nam đến đầu tháng 5.2026, số người hưởng BHXH một lần trên toàn quốc giảm 21,7% so với cùng kỳ.

BHXH Việt Nam cũng cho biết, hiện cả nước có khoảng 3,5 triệu người đang hưởng lương hưu hằng tháng.

Tính đến hết năm 2025, số người tham gia BHXH đạt 21,53 triệu người, tăng 6,80 triệu người so với năm 2018, tương đương mức tăng 46,14%. Tỉ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH đạt 45,11%, tăng 14,86 điểm phần trăm so với năm 2018.

Theo quy định hiện hành trong Luật Bảo hiểm xã hội về đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu (Điều 64) như sau:

1. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;

b) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;

c) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có từ đủ 15 năm trở lên làm công việc khai thác than trong hầm lò theo quy định của Chính phủ;

d) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.

2. Đối tượng quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động, trừ trường hợp Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Luật Cơ yếu, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng có quy định khác;

b) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;

c) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.

3. Chính phủ quy định việc hưởng lương hưu đối với trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh hoặc mất hồ sơ và các trường hợp đặc biệt khác.

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục