Bộ Tài chính trả lời về trích lập quỹ dự phòng tiền lương
Bộ Tài chính vừa trả lời công dân hỏi về quy định trích lập quỹ dự phòng tiền lương.
Công dân phản ánh, điểm c khoản 2.5 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định:
“Chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động nhưng hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm thực tế chưa chi, trừ trường hợp doanh nghiệp có trích lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau liền kề.
Mức dự phòng hằng năm do doanh nghiệp quyết định nhưng không quá 17% quỹ tiền lương thực hiện.
Quỹ tiền lương thực hiện là tổng số tiền lương thực tế đã chi trả của năm quyết toán đó đến thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ quyết toán theo quy định (không bao gồm số tiền trích lập quỹ dự phòng tiền lương của năm trước chi trong năm quyết toán thuế).
Việc trích lập dự phòng tiền lương phải bảo đảm sau khi trích lập, doanh nghiệp không bị lỗ; nếu doanh nghiệp bị lỗ thì không được trích đủ 17%. Trường hợp năm trước doanh nghiệp có trích lập quỹ dự phòng tiền lương mà sau 6 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp chưa sử dụng hoặc sử dụng không hết quỹ dự phòng tiền lương thì doanh nghiệp phải tính giảm chi phí của năm sau".
Theo tình hình tài chính của công ty tại ngày 31.12.2025, đơn vị xác định số tiền lương chưa chi đến ngày 31.3.2026 là 300 triệu.
Đơn vị thực hiện trích lập quỹ dự phòng tiền lương để được kéo dài thời gian đến 30.6.2026 theo quy định (đáp ứng đủ các điều kiện về hồ sơ, tỉ lệ trích lập dưới 17% theo quy định).
Căn cứ Chuẩn mực kế toán số 18, Thông tư 200, Thông tư số 48 hướng dẫn về trích lập quỹ dự phòng phải trả, hai trong các điều kiện cần để được ghi nhận dự phòng phải trả là:
Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị nghĩa vụ đó.
Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế khi thực hiện nghĩa vụ đó.
Tuy nhiên, tiền lương chưa chi đến 31.3:
Chưa được ước tính đáng tin cậy do khoản chi lương năm sau, đơn vị không chắc chắn có thực hiện được theo đúng kế hoạch hay không (phụ thuộc vào tài chính công ty).
Bản chất là khoản nợ đơn vị phải thực hiện do còn nợ lương và khi đơn vị thực hiện nghĩa vụ này sẽ không làm giảm sút các lợi ích kinh tế của đơn vị (không làm tăng chi phí, không làm giảm lợi nhuận… vì chi phí lương đã được tính vào chi phí sản xuất năm 2025).
Vì vậy, không đủ điều kiện để đơn vị hạch toán quỹ dự phòng tiền lương này như những khoản dự phòng mà Thông tư 48 đã hướng dẫn.
Công dân hỏi, đối với việc trích lập quỹ dự phòng tiền lương theo quy định tại Thông tư 78, đơn vị có mở sổ tài khoản và hạch toán kế toán hay không. Nếu có, đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết cách mở sổ tài khoản và hạch toán kế toán đối với trường hợp này.
Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Về quy định của pháp luật kế toán đối với các khoản dự phòng, tại đoạn 11 Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng quy định:
“Một khoản dự phòng chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện sau:
Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra.
Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ.
Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó".
Căn cứ quy định nêu trên, việc trích lập dự phòng quỹ tiền lương theo quy định của pháp luật thuế không thỏa mãn điều kiện ghi nhận một khoản dự phòng phải trả nên doanh nghiệp không được trích lập quỹ dự phòng tiền lương.
Việc trích lập dự phòng quỹ tiền lương chỉ áp dụng cho mục đích xác định chi phí được trừ hoặc không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động phải dựa trên cơ sở hợp đồng lao động ký kết giữa doanh nghiệp và người lao động, các biên bản nghiệm thu khối lượng, chứng từ liên quan… được ghi nhận vào chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh tại thời điểm phát sinh và trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc trích lập dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương nhằm xác định chi phí tiền lương được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được thực hiện theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.
Đọc bản gốc tại đây