Mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026. Ảnh: VGP
Mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026. Ảnh: VGP

Mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026

HÀ LÊ (báo lao động) 15/03/2026 09:03 (GMT+7)

Mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định quyền lợi của người lao động khi mất việc.

Theo Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, việc xác định tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp được chia theo từng nhóm đối tượng lao động.

Đối với người lao động hưởng lương theo chế độ do Nhà nước quy định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp gồm: phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).

Trong khi đó, với người lao động hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng theo hợp đồng lao động, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, các khoản phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Theo quy định, mức lương theo công việc hoặc chức danh được xác định theo thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động và được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Các khoản phụ cấp lương nhằm bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt hoặc mức độ thu hút lao động cũng được tính vào tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp, nếu đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Tuy nhiên, các khoản phụ cấp phụ thuộc vào năng suất lao động, chất lượng công việc hoặc quá trình làm việc sẽ không được tính.

Bên cạnh đó, các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể, trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương và được thỏa thuận trong hợp đồng lao động cũng được đưa vào căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp. Những khoản bổ sung mang tính biến động theo hiệu quả công việc sẽ không được tính.

Nghị định cũng quy định cụ thể đối với một số trường hợp đặc thù:

Với người lao động ngừng việc nhưng vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất, tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được tính theo mức lương thực tế được hưởng trong thời gian ngừng việc.

Đối với người lao động làm việc không trọn thời gian, nếu tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp được xác định theo mức lương tính trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Trường hợp hợp đồng lao động thỏa thuận trả lương theo giờ, theo ngày hoặc theo tuần, tiền lương tính trong tháng sẽ được quy đổi tương ứng bằng tiền lương theo đơn vị thời gian nhân với số giờ, số ngày hoặc số tuần làm việc trong tháng theo thỏa thuận.

Ngoài ra, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp, hay các chức danh quản lý của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có hưởng lương sẽ được xác định theo mức lương mà các đối tượng này được hưởng theo quy định của pháp luật.

Nghị định cũng bổ sung quy định về tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, nếu người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị tạm giam hoặc tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, thì cả người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian này.

Trường hợp sau đó người lao động được truy lĩnh đủ tiền lương, thì người lao động và người sử dụng lao động phải đóng bù bảo hiểm thất nghiệp cho thời gian đã tạm dừng, đồng thời thực hiện cùng với việc đóng bù bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định.

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục