Bình dân học vụ số mở cơ hội thoát nghèo ở Pù Nhi
Thanh Hóa - Bình dân học vụ số giúp người dân vùng biên Pù Nhi tiếp cận thông tin, nâng cao kỹ năng công nghệ và tìm kiếm cơ hội phát triển kinh tế.
Từ những ngày phải leo dốc tìm sóng điện thoại đến khi biết sử dụng internet để tìm hiểu kỹ thuật sản xuất, người dân xã biên giới Pù Nhi, tỉnh Thanh Hóa, đang từng bước thay đổi cách tiếp cận thông tin.
Thiếu thông tin, kỹ năng số: Rào cản thoát nghèo ở vùng biên
Trưởng bản Cơm Hơ Văn Hơ (sinh năm 1989) vẫn nhớ những ngày trước năm 2022, khi bản chưa có sóng điện thoại. Muốn gọi điện, người dân phải leo lên những sườn đồi cao để tìm tín hiệu. Mỗi khi cần thông báo công việc chung, anh Hơ lại đi từng nhà, có khi mất nửa ngày vì đường dốc, trời mưa trơn trượt.
Từ khi trạm phát sóng di động đi vào hoạt động năm 2022, cuộc sống ở bản bắt đầu thay đổi. Người dân có thể gọi điện tại nhà, sử dụng internet 4G để liên lạc và cập nhật thông tin. Với trưởng bản, việc thông báo lịch họp, vận động bà con tham gia công việc chung cũng thuận tiện hơn.
“Giờ thì khác rồi. Người dân có thể sử dụng điện thoại ngay tại nhà. Tôi chỉ cần gửi thông báo trên nhóm Zalo, bà con nắm được ngay. Công việc của trưởng bản cũng thuận lợi hơn rất nhiều”, anh Hơ chia sẻ.
Bản Cơm có 186 hộ, khoảng 900 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Mông. Hiện bản còn 81 hộ nghèo, 41 hộ cận nghèo và 64 hộ không nghèo. Địa hình chia cắt, đường đi lại khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp khiến đời sống của nhiều gia đình còn chật vật.
Ở Pù Nhi, khó khăn không chỉ nằm ở những bản từng thiếu sóng điện thoại. Ngay cả khi đã có thiết bị thông minh, không phải người dân nào cũng biết sử dụng để tìm kiếm kiến thức, tiếp cận chính sách hay phục vụ sản xuất.
Toàn xã có hơn 6.000 nhân khẩu, gần 97% là đồng bào dân tộc thiểu số. Địa bàn rộng, nhiều bản xa trung tâm, giao thông còn khó khăn; đời sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, thu nhập thấp. Không ít lao động trẻ đi làm ăn xa, trong khi người ở nhà, nhất là người lớn tuổi, ít có điều kiện tiếp cận công nghệ.
Bí thư Đảng ủy xã Pù Nhi Đoàn Văn Trường cho biết, điều khiến ông trăn trở là nhiều người dân không thiếu ý chí vươn lên, nhưng chưa có đủ cơ hội tiếp cận thông tin. Có chính sách thiết thực bà con chưa biết để thụ hưởng; có kỹ thuật sản xuất mới chưa đến được với người dân; có thủ đoạn lừa đảo trên mạng nhưng nhiều người chưa đủ kỹ năng nhận diện.

Từ thực tế đó, xã xác định công tác tuyên truyền phải gần dân, sát nhu cầu thực tế, thay vì chỉ truyền đạt những nội dung có sẵn. Ông Trường chia sẻ: “Muốn dân tin thì cán bộ phải xuống bản nhiều hơn ngồi phòng họp”.
Đây cũng là cơ sở để Pù Nhi triển khai Bình dân học vụ số theo hướng thiết thực hơn. Bởi nếu chỉ có hạ tầng mà người dân chưa biết sử dụng, những tiện ích công nghệ vẫn khó phát huy hiệu quả. Điều quan trọng là giúp bà con biết vận dụng công nghệ vào những công việc cụ thể trong cuộc sống.
Từ biết dùng công nghệ đến chủ động làm kinh tế
Từ thực tiễn cơ sở, Pù Nhi triển khai nhiều giải pháp đưa thông tin đến gần người dân. Bên cạnh việc từng bước cải thiện hạ tầng viễn thông, địa phương duy trì hệ thống truyền thanh cơ sở, bởi không phải ai cũng sử dụng điện thoại thông minh, trong khi nhiều người đi nương từ sáng đến tối.
Phong trào Bình dân học vụ số được triển khai theo phương châm “cầm tay chỉ việc”. Thay vì truyền đạt những khái niệm công nghệ khó hiểu, các thành viên hướng dẫn bà con trực tiếp trên điện thoại của mình, từ sử dụng VNeID, thực hiện dịch vụ công trực tuyến đến nhận diện thủ đoạn lừa đảo qua điện thoại và mạng xã hội.
Pù Nhi đã thành lập 13 tổ Bình dân học vụ số lưu động, huy động công an, đoàn viên thanh niên, giáo viên, cán bộ cơ sở, người có uy tín và lực lượng công nghệ số cộng đồng xuống từng bản, từng hộ gia đình. Cách làm là chủ động tìm đến người dân, hướng dẫn theo nhu cầu và khả năng tiếp thu của từng người, thay vì chờ bà con đến học.
Trong một buổi hướng dẫn tại nhà văn hóa bản Cơm, nhiều người mang điện thoại đến nhờ cán bộ hỗ trợ. Do chưa có kết nối Wi-Fi ổn định, cán bộ phải dùng điện thoại cá nhân phát mạng để bà con thực hành. Sóng lúc được, lúc mất; một số thao tác phải làm đi làm lại nhiều lần.
Bí thư Đảng ủy xã Đoàn Văn Trường nhớ lại, cuối buổi, khi vẫn còn người chưa thực hiện xong các thao tác, ông nghĩ bà con sẽ sốt ruột ra về. Nhưng nhiều người vẫn nán lại và nói: “Hôm nay chưa làm được thì hôm khác chúng tôi lại học tiếp”.
Với ông Trường, câu nói mộc mạc ấy cho thấy, người dân đã có nhu cầu học hỏi và sẵn sàng tiếp cận công nghệ. Vấn đề đặt ra là chính quyền phải tiếp tục cải thiện điều kiện hạ tầng, đồng thời duy trì việc hướng dẫn để sự ham học hỏi ấy không bị gián đoạn.

Theo số liệu địa phương cung cấp, phong trào đã thu hút 3.145 lượt người dân tham gia, trực tiếp hỗ trợ 3.098 người sử dụng các nền tảng số; đồng thời phát hiện, ngăn chặn 3 vụ việc có dấu hiệu lừa đảo trên không gian mạng.
Đáng chú ý, sau những buổi hướng dẫn, nhiều người dân ở bản Cơm không còn chỉ mang điện thoại đến nhờ cán bộ làm hộ. Họ đã biết tự mở ứng dụng, thực hiện các thao tác, tra cứu thông tin và sử dụng dịch vụ công trực tuyến; một số người còn hướng dẫn lại cho người thân, hàng xóm.
Từ chỗ e ngại công nghệ đến tự mình thao tác, sự thay đổi ấy cho thấy, người dân đang dần hình thành thói quen chủ động học hỏi. Hiệu quả của Bình dân học vụ số không chỉ nằm ở số lượt tham gia hay số người được hỗ trợ, mà còn ở việc bà con từng bước có thể tự sử dụng công nghệ trong đời sống.
Để việc học không dừng lại sau một vài buổi, địa phương khuyến khích học sinh trở thành cầu nối số trong gia đình, hướng dẫn ông bà, cha mẹ sử dụng điện thoại và các ứng dụng thiết yếu. Các tổ công nghệ số cộng đồng tiếp tục hỗ trợ khi người dân gặp vướng mắc.
Cùng với đó, loa truyền thanh, họp bản và nhóm Zalo được sử dụng linh hoạt để chuyển tải thông tin về chính sách, đời sống và sản xuất. Công tác tuyên truyền còn có sự phối hợp của Bộ đội Biên phòng, trưởng bản và người có uy tín, giúp thông tin đến với bà con bằng cách gần gũi, dễ hiểu.
Đưa kỹ năng số vào sản xuất, mở cơ hội tăng thu nhập
Với người dân vùng biên, kỹ năng số chỉ thực sự phát huy giá trị khi giúp giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, đặc biệt là sản xuất và phát triển kinh tế gia đình.
Trước đây, nhiều hộ ở Pù Nhi chủ yếu làm nông nghiệp theo kinh nghiệm, ít có điều kiện tìm hiểu kỹ thuật mới, mô hình sản xuất hiệu quả hoặc thông tin thị trường. Khi được tiếp cận thêm kiến thức, trao đổi với những người có kinh nghiệm và tham quan mô hình thực tế, bà con có thêm cơ sở để lựa chọn hướng làm ăn phù hợp.
Anh Triệu Văn Cấu là một trong những người tìm cách thay đổi sinh kế. Sau khi tìm hiểu kỹ thuật và tham quan các mô hình, anh chuyển sang phát triển khoảng 1ha cam kết hợp chăn nuôi. Việc chuyển đổi đòi hỏi gia đình phải tính toán điều kiện đất đai, công chăm sóc và khả năng đầu tư, nhưng mở ra hướng sản xuất khác so với cách làm trước đây.

Tại địa phương, người dân khác cũng được vận động tìm hiểu những mô hình như nuôi lợn đen, trồng rau cải Mông, trồng sắn năng suất cao. Việc tiếp cận thông tin về kỹ thuật giúp bà con có thêm lựa chọn, nhưng áp dụng ra sao cần căn cứ vào điều kiện từng hộ và khả năng tiêu thụ sản phẩm, tránh đầu tư theo phong trào.
Câu chuyện ở bản Hạ Sơn cũng cho thấy muốn giúp người dân thoát nghèo cần nhìn đúng những khó khăn cụ thể của từng gia đình. Hộ chị Hơ Thị Tung từng được hỗ trợ cây, con giống nhưng cuộc sống vẫn khó khăn do đường vào nhà bất tiện, ảnh hưởng đến việc vận chuyển vật tư và nông sản. Sau khi khó khăn được kết nối tháo gỡ, một tuyến đường nhỏ từ đường chính vào nhà được xây dựng với sự chung tay của các tổ chức thiện nguyện và người dân.
Con đường không trực tiếp tạo ra thu nhập, nhưng giúp gia đình thuận lợi hơn trong sinh hoạt và sản xuất. Sau những thay đổi ấy, chị Tung chủ động đề nghị được đưa ra khỏi danh sách hộ nghèo.
Cùng với các hoạt động hỗ trợ sinh kế, mô hình “Bản sáng vùng biên” với hệ thống đèn đường năng lượng mặt trời do Bộ đội Biên phòng hỗ trợ góp phần cải thiện điều kiện đi lại, sinh hoạt. Những công trình thiết thực giúp cuộc sống ở bản thuận tiện hơn, tạo thêm điều kiện để người dân tham gia các hoạt động chung.
Theo số liệu địa phương cung cấp, trong tổng số 1.255 hộ được thống kê, có 725 hộ đã thoát nghèo. Kết quả này đến từ nhiều yếu tố và chương trình hỗ trợ khác nhau, không thể quy hoàn toàn cho Bình dân học vụ số. Tuy nhiên, việc nâng cao kỹ năng số giúp người dân có thêm điều kiện tiếp cận chính sách, tìm hiểu kỹ thuật và chủ động lựa chọn cách làm ăn, qua đó góp phần cải thiện hiệu quả lao động và thu nhập.
Bí thư Đảng ủy xã Pù Nhi Đoàn Văn Trường tin rằng, khi tri thức và kỹ năng số đến được với từng người dân, mỗi gia đình sẽ có thêm cơ hội phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập và vươn lên thoát nghèo. Theo ông, phong trào cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, có sự chung tay của cả hệ thống chính trị và sự chủ động của người dân. Quan trọng nhất là không làm thay, mà hướng dẫn để bà con biết học hỏi, nắm bắt cơ hội và tự làm chủ cuộc sống.
Từ những lớp học số ở nhà văn hóa bản đến việc ứng dụng kiến thức vào sản xuất, Bình dân học vụ số đang từng bước giúp người dân Pù Nhi tự tin hơn trước những thay đổi của công nghệ. Khi bà con biết tự học, tự làm và chủ động tìm kiếm cơ hội, kỹ năng số không còn là những thao tác trên điện thoại, mà trở thành công cụ phục vụ cuộc sống, góp phần nâng cao thu nhập và hướng tới giảm nghèo bền vững.
Xem bản gốc tại đây