Điều 8 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định rõ Hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Ảnh: Anh Tú
Điều 8 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định rõ Hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Ảnh: Anh Tú

Hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động

Quỳnh Chi (báo lao động) 18/08/2025 09:02 (GMT+7)

Chính phủ mới ban hành Nghị định 219 về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 7.8.

Trong đó, Điều 8 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định rõ Hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động như sau:

Điều 8. Hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động

1. Văn bản đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo Mẫu số 1 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Giấy khám sức khỏe do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện cấp, trừ trường hợp kết quả khám sức khỏe đã được kết nối, chia sẻ trên Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh hoặc cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế. Đối với giấy khám sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền của nước ngoài cấp được sử dụng trong trường hợp Việt Nam và quốc gia hoặc vùng lãnh thổ cấp giấy khám sức khỏe có điều ước hoặc thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau và thời hạn sử dụng của giấy khám sức khỏe đó không quá 12 tháng kể từ ngày được cấp.

3. 2 ảnh màu (kích thước 4x6cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính).

4. Hộ chiếu còn thời hạn.

5. Giấy tờ chứng minh người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động là một trong các giấy tờ sau:

a) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật đối với trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 154 Bộ luật Lao động hoặc một trong các trường hợp quy định tại các Khoản 9, 14 và 15 Điều 7 Nghị định này;

b) Văn bản của người sử dụng lao động tại nước ngoài cử người lao động nước ngoài kèm thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên đối với trường hợp quy định tại Khoản 7 Điều 154 của Bộ luật Lao động hoặc một trong các trường hợp quy định tại các Khoản 4, 6, 7, 11 và 12 Điều 7 Nghị định này;

c) Văn bản chứng minh là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật theo quy định tại Điều 19 Nghị định này kèm theo văn bản của người sử dụng lao động tại nước ngoài cử người lao động nước ngoài sang làm việc có thời hạn tại hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và xác nhận đã được người sử dụng lao động tại nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng liên tục ngay trước khi vào Việt Nam làm việc đối với trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 13 Điều 7 Nghị định này.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục