Chồng đã có nhà, vợ có được mua nhà ở xã hội từ 2026 không?
Quy định về mua nhà ở xã hội đặt ra nhiều tiêu chí cụ thể liên quan đến điều kiện nhà ở, thu nhập và đối tượng thụ hưởng.
Theo Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 54/2026/NĐ-CP có hiệu lực ngày 9.2.2026) quy định về điều kiện về nhà ở như sau:
- Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở 2023 và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó.
Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này.
- Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở 2023 có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15m2 sàn/người. Diện tích nhà ở bình quân đầu người quy định tại khoản này được xác định trên cơ sở bao gồm: người đứng đơn, vợ (chồng) của người đó, cha, mẹ (nếu có) và các con của người đó (nếu có) đăng ký thường trú tại căn nhà đó.
Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận diện tích nhà ở bình quân đầu người, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc xác nhận đối với trường hợp quy định tại khoản này.
Theo đó, mặc dù chồng đã sở hữu nhà riêng, vợ vẫn có thể mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng các điều kiện pháp lý. Nếu gia đình có diện tích nhà ở bình quân đầu người dưới mức tối thiểu (15m2 sàn/người), vợ có thể đủ điều kiện mua nhà ở xã hội, miễn là không sở hữu nhà hợp pháp tại nơi có dự án nhà ở xã hội. Ngoài ra, việc vợ không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chồng cũng tạo điều kiện để mua nhà ở xã hội.
Bên cạnh đó, căn cứ Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 54/2026/NĐ-CP và Nghị định 261/2025/NĐ-CP quy định, đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau: Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Đọc bản gốc tại đây