Theo chuyên gia, chính sách về nhân lực trong giai đoạn mới yêu cầu phải có sự đột phá. Ảnh: Quỳnh Chi
Theo chuyên gia, chính sách về nhân lực trong giai đoạn mới yêu cầu phải có sự đột phá. Ảnh: Quỳnh Chi

Yêu cầu đột phá chính sách về nhân lực

Quỳnh Chi (báo lao động) 24/08/2026 09:21 (GMT+7)

Yêu cầu đột phá chính sách về nhân lực trở nên bức thiết khi Việt Nam gia tăng tốc độ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thu hút nguồn vốn FDI công nghệ cao.

Vấn đề trên thị trường lao động

Bối cảnh chuyển dịch kinh tế đòi hỏi chất lượng nhân lực phải có bước nhảy vọt, tuy nhiên, các yếu tố nội lực của nền kinh tế, trong đó có nguồn nhân lực, đang chịu áp lực lớn trước những đòi hỏi khắt khe của chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Lê Quang Trung – nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm nhận định thị trường lao động Việt Nam đang tồn tại một "mâu thuẫn kép": vừa thừa lao động phổ thông thiếu kỹ năng, vừa thiếu trầm trọng nhân lực chất lượng cao.

“Một mặt, làn sóng tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) đang đe dọa hàng triệu lao động gia công, lắp ráp trong các ngành truyền thống như dệt may, da giày, chế biến. Mặt khác, các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp công nghệ khi đầu tư vào Việt Nam lại chật vật tìm kiếm kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI, dữ liệu lớn (Big Data) hay nhân sự quản lý chuỗi cung ứng đạt chuẩn quốc tế”, ông Trung nói.

Ông Lê Quang Trung nhận định thị trường lao động Việt Nam vừa thừa lao động phổ thông thiếu kỹ năng, vừa thiếu trầm trọng nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Quỳnh Chi
Ông Lê Quang Trung nhận định thị trường lao động Việt Nam vừa thừa lao động phổ thông thiếu kỹ năng, vừa thiếu trầm trọng nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Quỳnh Chi

Chung quan điểm, bà Nguyễn Thị Lan Hương – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động Xã hội viện dẫn báo cáo tình hình lao động việc làm quý II/2026 do Cục Thống kê ban hành: Tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý II/2026 là 29,8%; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ của cả nước là 29,7%.

Bà Hương cho rằng thực trạng nguồn nhân lực hiện nay phản ánh rõ nét những bất cập đã tích tụ qua nhiều năm. Thứ nhất là tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ còn hạn chế. Hơn 70% lực lượng lao động chủ yếu trưởng thành qua công việc thực tế, thiếu kỹ năng mềm, ngoại ngữ và năng lực số thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.

Thứ hai là tình trạng "thừa thầy thiếu thợ". Tâm lý chuộng bằng đại học vẫn đè nặng lên xã hội, tạo ra hiện tượng cử nhân, thạc sĩ ra trường làm trái ngành hoặc thất nghiệp, trong khi các doanh nghiệp sản xuất lại rơi vào khủng hoảng thiếu hụt thợ lành nghề, kỹ thuật viên trung cấp.

Thứ ba là đào tạo lệch pha với nhu cầu thực tế. Các cơ sở giáo dục đại học và học nghề vẫn chủ yếu "bán những gì mình có" thay vì "cung cấp những gì thị trường cần". Chương trình học chậm cập nhật các xu hướng công nghệ mới, khiến doanh nghiệp sau khi tuyển dụng thường phải tốn chi phí và thời gian tái đào tạo từ đầu.

Nâng cao năng suất lao động - con đường duy nhất duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia

Bà Nguyễn Thị Lan Hương nhận định, sự khập khiễng cung - cầu lao động không chỉ đến từ hệ thống đào tạo mà còn bắt nguồn từ những nút thắt trong công tác quản lý Nhà nước và hoạch định chính sách.

Trong đó, nổi cộm nhất là việc dự báo thị trường lao động còn thụ động. Hệ thống thông tin và dự báo cầu lao động chưa kịp thời, thiếu dữ liệu lớn để đưa ra các kịch bản dự báo trung và dài hạn cho từng ngành, từng vùng kinh tế.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương nhận định, sự khập khiễng cung - cầu lao động không chỉ đến từ hệ thống đào tạo mà còn bắt nguồn từ những nút thắt trong công tác quản lý Nhà nước và hoạch định chính sách. Ảnh: Hải Nguyễn
Bà Nguyễn Thị Lan Hương nhận định, sự khập khiễng cung - cầu lao động không chỉ đến từ hệ thống đào tạo mà còn bắt nguồn từ những nút thắt trong công tác quản lý Nhà nước và hoạch định chính sách. Ảnh: Hải Nguyễn

Bên cạnh đó, công tác hướng nghiệp, phân luồng chưa hiệu quả. Công tác hướng nghiệp tại bậc phổ thông còn mang tính hình thức, chưa giúp học sinh nhận thức đúng về năng lực bản thân và xu hướng nghề nghiệp của tương lai.

Cuối cùng, mối liên kết "3 nhà" rời rạc khi sự kết nối giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp chưa có cơ chế ràng buộc và lợi ích kinh tế rõ ràng. Doanh nghiệp ít khi tham gia sâu vào khâu xây dựng giáo trình, đặt hàng đào tạo hay hỗ trợ cơ sở vật chất thực hành cho các nhà trường.

Đánh giá về bài toán chiến lược nâng cao năng suất lao động quốc gia, ông Lê Quang Trung nhấn mạnh: "Nâng cao năng suất lao động là con đường duy nhất để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia. Nếu không nhanh chóng tái cấu trúc lực lượng lao động, lợi thế dân số vàng sẽ trôi qua một cách lãng phí".

Theo ông Lê Quang Trung, nâng cao năng suất lao động không đơn thuần là ép buộc lao động tăng giờ làm, mà là cải thiện chỉ số chất lượng lao động thông qua kỹ năng, công nghệ và tư duy quản trị.

Do đó, chính sách về nhân lực trong giai đoạn mới yêu cầu phải có sự đột phá. Ông Trung cho rằng để giải quyết bài toán nhân lực trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp căn cơ và đồng bộ.

Đổi mới chính sách dự báo và dữ liệu lao động thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thị trường lao động ứng dụng AI, giúp kết nối thời gian thực giữa nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và quy mô đào tạo của các trường.

Xây dựng cơ chế đặc thù cho mô hình "3 nhà" khi đưa ra các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai cho doanh nghiệp khi họ đầu tư trực tiếp vào các cơ sở đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập hoặc ký hợp đồng đặt hàng nhân lực.

Hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp để tập trung nguồn lực quốc gia phát triển các trường nghề chất lượng cao, chuẩn hóa bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề tiệm cận chuẩn Asean và thế giới.

Xây dựng chính sách học tập suốt đời, khuyến khích lao động tự cập nhật kỹ năng số và kỹ năng xanh thông qua các quỹ hỗ trợ học tập, chứng chỉ ngắn hạn từ doanh nghiệp.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục