Nghị quyết Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam
Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam đã họp từ ngày 17 đến ngày 20-10-1988 tại Hà Nội.
Đại hội đã nghe báo cáo tình hình và nhiệm vụ của Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam (khóa V), bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ý kiến phát biểu của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười. Trên cơ sở đó, Đại hội đã thảo luận, nhất trí thông qua Báo cáo Chính trị, Điều lệ sửa đổi; coi đó là cương lĩnh hành động của phong trào công nhân, lao động và tổ chức Công đoàn trong những năm tới.
Đại hội quyết nghị
1. Biểu dương công nhân và Công đoàn cả nước đã cần cù, dũng cảm, khắc phục khó khăn đề giữ vững sản xuất, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, luôn luôn gắn bó với Đảng, là chỗ dựa tin cậy của Đảng và Nhà nước. Biểu dương đội ngũ cán bộ công đoàn đã tận tụy, kiên trì, vận động quần chúng thi đua lao động, sản xuất, tiết kiệm; tham gia đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đấu tranh chống tiêu cực; chăm lo đời sống người lao động.
Đại hội phê phán những biểu hiện tiêu cực, không phù hợp với bản chất cách mạng, tính tiền phong gương mẫu của giai cấp công nhân trong một bộ phận công nhân, lao động; phê phán bệnh quan liêu, hành chính, thái độ hữu khuynh của Công đoàn trong đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của công nhân viên chức.
2. Nhiệm vụ chung của Công đoàn trong những năm tới là tập hợp, giáo dục, làm cho công nhân, lao động hiểu rõ tình hình của đất nước, hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội; chăm lo đời sống, bảo vệ quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của công nhân, lao động; xây dựng giai cấp công nhân và Công đoàn vững mạnh; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, Đại hội nhất trí cho rằng Việc làm và đời sống - Dân chủ và công bằng xã hội chính là yêu cầu bức xúc của công nhân và lao động, là mối quan tâm hàng ngày của các cấp công đoàn.
3. Năng suất, chất lượng, hiệu quả, cải thiện đời sống người lao động phải là mục tiêu của mọi cuộc vận động thi đua. Phong trào hành động cách mạng trong mỗi tập thể công nhân, viên chức cần hướng vào các nội dung sau:
a) Triệt để tiết kiệm tiêu hao vật chất trong quá trình sản xuất, trên cơ sở các định mức hợp lý.
b) Sắp xếp gọn bộ máy, giảm biên chế hành chính, gián tiếp.
c) Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới quy trình công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
d) Tăng cường các biện pháp quản lý lao động, chống tệ nạn làm dối, làm ẩu, ăn cắp, lãng phí của công.
e) Chú trọng các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, nhất là trong môi trường nặng nhọc, độc hại và đối với lao động nữ.
g) Tiếp tục phát triển các hình thức liên kết thi đua sản xuất giữa các cơ sở, các ngành, các địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp, hỗ trợ nhau, thực hiện có hiệu quả mục tiêu chung. Đẩy mạnh phong trào thi đua quốc tế với Liên Xô và các nước X.H.C.N, nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình, thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế, các đơn đặt hàng theo hiệp định đã ký kết giữa các bên.
Đối với lao động và chuyên gia làm việc ở nước ngoài, Công đoàn cần vận động anh chị em lao động tốt, tích cực học nghề, học tiếng, chấp hành pháp luật, tăng cường đoàn kết với công nhân và nhân dân nước bạn.
4. Quán triệt nội dung liên minh công nông trong tình hình mới, Công đoàn phải tuyên truyền giải thích cho công nhân lao động hiểu rõ trách nhiệm đối với việc thực hiện chương trình lương thực - thực phẩm, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước và Hội nông dân, huy động mọi khả năng của các ngành công nghiệp, của khoa học kỹ thuật để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Vận động công nhân, viên chức thực hiện kế hoạch sản xuất, cung ứng năng lượng, nhiên liệu, công cụ, phân bón... cho nông nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến, làm ra nhiều hàng hóa tiêu dùng chất lượng tốt hợp với yêu cầu, thị hiếu của nông dân. Thực hiện đúng các chính sách, các hợp đồng kinh tế, khắc phục tệ cửa quyền, gây phiền hà trong trao đổi, mua bán với nông dân.
Công đoàn ở các nông trường, lâm trường quốc doanh vận động công nhân, viên chức đẩy mạnh sản xuất, thực hiện hạch toán kinh tế, giúp đỡ nông dân địa phương ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
5. Trong điều kiện kinh tế còn nhiều thành phần, Công đoàn có trách nhiệm tuyên truyền, động viên công nhân, lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thực hiện đúng các chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, hăng hái lao động sản xuất, phát huy quyền dân chủ trong quản lý, phân phối thu nhập.
Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng với các cơ quan Nhà nước nghiên cứu sớm ban hành các chính sách, chế độ về lao động, tiền lương, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, quan hệ chủ, thợ... trong khu vực này.
6. Chăm lo đời sống và bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động là một nội dung quan trọng để xây dựng giai cấp công nhân, phát huy quyền làm chủ tập thể của công nhân, lao động; là chức năng cơ bản và nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Công đoàn.
a) Trong những năm tới Công đoàn phải cùng với cơ quan Nhà nước vận động công đoàn viên chức sắp xếp lại sản xuất, tổ chức lại lao động, mở rộng sản xuất phụ, tổ chức dịch vụ, gia công để tạo việc làm và tăng thu nhập cho công nhân viên chức. Đối với số lao động đôi ra, Công đoàn phải cùng với chính quyền xem xét kỹ từng trường hợp để có biện pháp chính sách thỏa đáng. Công đoàn cơ sở quận, huyện, thị xã giúp đỡ anh chị em thiếu việc tìm việc làm; lập các cơ sở sản xuất, dịch vụ, mở lớp dạy nghề để giúp công nhân lao động và con cái họ có việc làm, có thêm thu nhập.
Công đoàn cần tham gia với cơ quan quản lý tuyển chọn người đi hợp tác lao động với nước ngoài; bảo vệ lợi ích chính đáng của họ trong thời gian làm việc ở nước ngoài và tham gia sắp xếp việc làm cho những người hết hạn trở về nước.
b) Kiến nghị với Nhà nước sớm nghiên cứu cải cách cơ bản chính sách tiền lương theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng. Áp dụng những biện pháp để bảo đảm lương thực tế ngang mức tháng 9-1985. Chấm dứt tình trạng nợ lương, chậm bán gạo cho công nhân viên chức.
Ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh, Công đoàn vận động công nhân thực hiện các định mức kinh tế - kỹ thuật, phấn đấu tăng năng suất lao động để tăng thu nhập, đồng thời tham gia với cơ quan quản lý và Hội đồng xí nghiệp xây dựng đơn giá tiền lương hợp lý, phương pháp phân phối các quỹ xí nghiệp, giám sát việc thực hiện các quy chế lương, tiền thưởng.
Ở các cơ quan hành chính, sự nghiệp, Công đoàn vận động anh chị em giảm bớt biên chế hành chính, thực hiện chủ trương khóan quỹ lương, kiêm nhiệm công việc để phát huy khả năng lao động, tăng thu nhập.
a) Kiến nghị với Nhà nước sớm ban hành chính sách mới về nhà ở. Công đoàn các cấp, nhất là công đoàn cơ sở phải tham gia với cơ quan quản lý có kế hoạch xây dựng, sửa chữa, cải tạo nhà ở, phát triển "làng công nhân" ở những nơi có điều kiện; tham gia phân phối nhà ở cho công nhân viên chức, bảo đảm công bằng, hợp lý, đúng chính sách, chống các biểu hiện tiêu cực trong việc phân phối nhà ở.
b) Đồng thời với việc cải cách tiền lương, Công đoàn phối hợp với Nhà nước nghiên cứu cải tiến các chính sách xã hội cho người lao động như: chính sách đối với người công tác lâu năm ở biên giới, hải đảo, miền núi xa xôi, hẻo lánh, bổ sung chính sách đối với người về hưu, người mắc bệnh nghề nghiệp, với lao động nữ. Đề xuất chế độ trợ cấp ngừng việc, chờ việc cho số lao động dôi ra, các chính sách bảo hiểm xã hội với lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh...
Các chính sách bảo hiểm xã hội do Công đoàn trực tiếp quản lý cần được cải tiến theo hướng mở rộng quyền tự chịu trách nhiệm của cơ sở. Chuyển hệ thống các nhà nghỉ do Công đoàn quản lý sang hạch toán lấy thu bù chi.
Công đoàn cơ sở, công đoàn quận, huyện, thị xã phải thường xuyên giúp đỡ, tạo điều kiện cho người về hưu tham gia sinh hoạt, giải trí, nghỉ ngơi, tham quan, du lịch; thu hút những người còn khả năng hoạt động, tham gia công tác xã hội, làm kinh tế gia đình.
Công đoàn các cấp cần chú ý tới những nhu cầu và quyền lợi riêng của phụ nữ trong khi giải quyết các lợi ích của người lao động như: tham gia với chính quyền bố trí, sử dụng hợp lý lao động nữ; giúp đỡ chị em tiến bộ trong nghề nghiệp; dành một phần quỹ phúc lợi, tập thể cho cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, xây dựng và củng cố các nhà trẻ, mẫu giáo, các hợp tác xã tiểu thủ, các quầy hàng phục vụ trong xí nghiệp và trong khu tập thể... nhằm giảm bớt gánh nặng gia đình cho chị em.
7. Làm rõ quyền hạn, tăng cường hoạt động của các Ban thanh tra công nhân, cơ quan; các đội kiểm tra của công nhân trên các địa bàn quận, huyện, thị xã; tăng cường công tác pháp luật của Công đoàn làm cho công nhân lao động hiểu biết pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật.
Nghiên cứu và phối hợp với các cơ quan Nhà nước giải quyết kịp thời các đơn từ khiếu nại, tố cáo của công nhân, lao động.
Phát huy mạnh mẽ vai trò, chức năng của báo chí công đoàn trong việc phát hiện, biểu dương những nhân tố mới; đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong nội bộ công nhân viên chức, trong tổ chức Công đoàn và ngoài xã hội, bảo vệ quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của người lao động.
8. Phải đổi mới công tác tổ chức và cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng: mở rộng đối tượng và phạm vi hoạt động của Công đoàn; phát huy quyền tự chủ của công đoàn cơ sở, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh; chấn chỉnh, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, làm gọn bộ máy công đoàn các cấp trên cơ sở xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn có nhiệt tình, có năng lực tập hợp quần chúng tham gia quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; khắc phục bệnh quan liêu hành chính, làm cho hoạt động công đoàn thật sự là hoạt động của đông đảo công nhân và lao động, thể hiện được tính độc lập của tổ chức Công đoàn.
Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề về giai cấp công nhân, về vai trò, chức năng của Công đoàn trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ, trong tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay.
9. Trung thành với truyền thống đoàn kết quốc tế của mình, lao động và các Công đoàn Việt Nam tiếp tục góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của lao động và phong trào công đoàn thế giới vì lợi ích người lao động, vì hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc, phát triển và tiến bộ xã hội; vào sự mở rộng thống nhất hành động của các tổ chức Công đoàn thuộc các tổ chức quốc tế, các xu hướng chính trị khác nhau.
Phương hướng hoạt động quốc tế của các Công đoàn Việt Nam trong những năm tới là tiếp tục tăng cường quan hệ giữa lao động và Công đoàn các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, quan hệ hữu nghị và hợp tác với công đoàn Liên Xô và các nước X.H.C.N khác góp phần tích cực vào việc mở rộng liên kết kinh tế giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa; tiếp tục củng cố và phát triển sự hợp tác với liên hiệp công đoàn thế giới, phát triển quan hệ hữu nghị, thống nhất hành động với Công đoàn các nước và các tổ chức Công đoàn quốc tế thuộc các xu hướng khác nhau nhằm tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng C.N.X.H và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dương và thế giới; thiết lập trật tự kinh tế quốc tế mới; mở rộng dân chủ và quyền công đoàn; vì việc làm và cuộc sống tốt đẹp của người lao động.
10. Đại hội giao cho Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa VI tổ chức thực hiện những nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết này, từng năm phải định ra chương trình có mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội. Tăng cường mối quan hệ phối hợp với Hội đồng Bộ trưởng và các cơ quan quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong sản xuất và đời sống của công nhân, lao động.
Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đoàn viên và anh chị em công nhân, lao động trong cả nước hãy hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần ổn định một bước tình hình kinh tế - xã hội, tạo tiền đề phát triển trong những năm tiếp theo.
Trích cuốn sách Công đoàn Việt Nam từ Đại hội I đến Đại hội X của NXB Lao động.