Bộ Nội vụ hướng dẫn xác định tiền lương thực trả để tính lương làm thêm giờ. Ảnh: Bảo Hân
Bộ Nội vụ hướng dẫn xác định tiền lương thực trả để tính lương làm thêm giờ. Ảnh: Bảo Hân

Xác định tiền lương thực trả để tính lương làm thêm giờ

HƯƠNG NHA (báo lao động) 04/08/2026 08:41 (GMT+7)

Bộ Nội vụ hướng dẫn doanh nghiệp xác định tiền lương thực trả theo tính chất của từng khoản chi trả cho người lao động khi tính tiền lương làm thêm giờ.

Bà Nguyễn Thị Lê (tên nhân vật được thay đổi) cho biết đang làm nhân viên tại một công ty sản xuất và phản ánh doanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc tính tiền lương làm thêm giờ và phụ cấp làm việc ban đêm cho người lao động.

Theo bà Lê, công ty thỏa thuận mức lương tổng là 10 triệu đồng/tháng, trong đó 70% là lương chính, còn 30% là lương hiệu quả công việc (KPI). Khoản lương KPI được quy định trong phụ lục hợp đồng lao động và chi trả theo kết quả đánh giá hằng tháng, có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức 30% tùy theo xếp loại A, B, C, D.

Từ thực tế trên, bà Lê đề nghị Bộ Nội vụ hướng dẫn doanh nghiệp khi tính tiền lương làm thêm giờ và phụ cấp làm việc ban đêm thì được tính trên mức lương tổng (gồm lương chính và lương KPI) hay chỉ tính trên lương chính. Đồng thời, bà cũng đề nghị làm rõ phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp chức vụ trả cố định hằng tháng có được tính vào "lương thực trả" để làm căn cứ tính tiền lương làm thêm giờ hay không.

Liên quan đến phản ánh, kiến nghị của bà Lê, Bộ Nội vụ đã có phản hồi trên Cổng thông tin điện tử:

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14.12.2020 của Chính phủ thì tiền lương làm căn cứ để tính tiền làm thêm giờ đối với người lao động hưởng lương theo thời gian là tiền lương thực trả của công việc đang làm của tháng hoặc tuần hoặc ngày mà người lao động làm thêm giờ.

Tiền lương này không bao gồm các khoản tiền sau: Tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động; tiền thưởng theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động).

Bộ Nội vụ đề nghị bà căn cứ quy định nêu trên, đối chiếu với tính chất của từng khoản tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động để xác định tiền lương giờ thực trả làm căn cứ tính tiền lương làm thêm giờ cho người lao động.

Đọc bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục