Mai Tây Bắc đã trở thành gương mặt quen thuộc bán nông sản, đặc sản quê trên TikTok Shop. Ảnh: Thu Hạnh
Mai Tây Bắc đã trở thành gương mặt quen thuộc bán nông sản, đặc sản quê trên TikTok Shop. Ảnh: Thu Hạnh

Xóa vùng lõm sóng, mở sinh kế cho người dân vùng cao

Thu Hạnh (báo lao động) 26/10/2026 10:59 (GMT+7)

Từ những video giới thiệu văn hóa bản địa đến hàng nghìn đơn hàng nông sản được bán qua mạng, Internet đang mở thêm hướng sinh kế cho người dân miền núi. Nhưng để cơ hội ấy đến được với những bản làng xa xôi nhất, cần tiếp tục xóa vùng lõm sóng, hỗ trợ thiết bị và giảm rào cản chi phí kết nối.

Từ căn bếp vùng cao đến thị trường nghìn đơn hàng

“Chào mọi người, mình là Mai Tây Bắc đây”, lời chào giản dị của chị Phạm Thị Phương Mai, quê thôn Tân Tiến, xã Trịnh Tường, tỉnh Lào Cai, đã trở nên quen thuộc với nhiều người xem trên mạng xã hội. Qua những video nấu món ăn dân dã, giới thiệu rau rừng, cá suối, xôi nếp và phong tục bản địa, chị đưa cuộc sống thường ngày của người dân Tây Bắc đến gần hơn với khán giả ở nhiều vùng miền.

Điều đáng chú ý là mạng xã hội không chỉ giúp Mai quảng bá văn hóa. Đây còn là một kênh bán hàng, mở rộng đầu ra cho nông sản địa phương.

Tại Hội nghị KOL toàn quốc tháng 8.2025, Mai cho biết trước đây, khi bán nông sản theo phương thức truyền thống cho người dân trong xã, gia đình chỉ tiêu thụ được khoảng 5-10 đơn hàng mỗi ngày. Sau khi xây dựng kênh TikTok, Facebook, quay video trải nghiệm sản phẩm và livestream bán hàng, có những ngày lượng đơn lên tới hàng nghìn.

Kênh Mai Tây Bắc hiện có khoảng 787.200 người theo dõi. Con số này không tự động đồng nghĩa với doanh thu, nhưng cho thấy khả năng đưa sản phẩm và câu chuyện quê hương đến với lượng khán giả lớn. Muốn chuyển sự quan tâm thành đơn hàng, người bán vẫn cần bảo đảm chất lượng sản phẩm, giá cả, đóng gói và giao hàng.

Hiện tại, mật ong rừng, mỡ lợn đen bản, sâm đất, miến dong, hạt cải mèo là những mặt hàng Mai bán quanh năm cho khách hàng tiêu dùng cả nước cùng với những nông sản theo mùa của địa phương. Những video bán nông sản mang đậm nét đẹp dung dị của bản làng núi rừng Lào Cai.

Ngoài ra, cô còn chủ động liên kết với các hợp tác xã có sản phẩm OCOP đưa các sản phẩm lên mạng xã hội để nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ.

Mai cũng thường tham gia hướng dẫn cho thanh niên trong xã, trong huyện cách bán hàng trên mạng cũng như làm các video quảng bá sản phẩm cũng như đào tạo cho mọi người cách quay phim, dựng phim cơ bản, để ngày càng có thêm nhiều những kênh bán hàng bản địa, mang nông sản, đặc sản địa phương đến người dân trên mọi miền đất nước.

Khi bản làng có thể tự kể câu chuyện của mình

Không chỉ Mai Tây Bắc, anh Sùng A Tủa, được biết đến qua kênh A Tủa Phình Hồ, cũng là một ví dụ về cách người vùng cao tận dụng nền tảng số để quảng bá quê hương. Là cán bộ xã, người Mông ở Phình Hồ, anh sử dụng những video giới thiệu núi rừng, cuộc sống bản địa và sản vật địa phương để đưa hình ảnh quê hương đến với cộng đồng mạng. Kênh của anh từng được ghi nhận có hơn 400.000 người theo dõi trên TikTok.

  Đài truyền thanh cơ sở đưa thông tin đến với người dân xã Pù Nhi, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Thu Hạnh
Bộ đội Biên phòng Lai Chau đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới. Ảnh: Thu Hạnh

Điểm đáng chú ý ở những người làm nội dung như A Tủa là họ không cần bắt đầu bằng những câu chuyện xa lạ hay sản phẩm cầu kỳ. Chính cảnh sắc, phong tục, món ăn và nhịp sống thường ngày tại bản làng trở thành chất liệu để thu hút người xem. Khi nội dung được lan tỏa, địa phương có thêm cơ hội quảng bá du lịch, sản phẩm và những nét văn hóa đặc sắc.

Cùng hướng đi ấy, ông Phạm Đức Nam, Chủ tịch UBND xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, với hơn 13.000 người theo dõi, và ông Nguyễn Duy Tư, Bí thư Đảng ủy xã Vân Sơn, tỉnh Phú Thọ, với hơn 30.000 người theo dõi, cũng sử dụng video để giới thiệu cảnh quan, thác nước và đời sống địa phương.

Những ví dụ này cho thấy Internet có thể tạo ra một kênh quảng bá mới cho vùng cao. Khi du khách biết đến một điểm đến qua video, họ có thể tìm hiểu thêm về đường đi, nơi lưu trú, món ăn và trải nghiệm bản địa. Nếu địa phương tổ chức được các dịch vụ phù hợp, sự quan tâm trên mạng có thể chuyển thành nhu cầu tham quan, lưu trú và tiêu dùng, tạo thêm việc làm, thu nhập cho người dân.

Tương tự, các kênh Nông sản Tây Bắc 26 với 216.000 người theo dõi và Mẩy Lung Yên Bái với 245.000 người theo dõi đang tận dụng mạng xã hội để giới thiệu đặc sản địa phương. Những con số này cho thấy khả năng tiếp cận khách hàng của các kênh số, dù hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm và khả năng tổ chức bán hàng.

Nhưng đằng sau những video có hàng nghìn, hàng trăm nghìn lượt theo dõi là điều kiện kết nối. Muốn quay, đăng tải nội dung, livestream, nhận đơn và trao đổi với khách hàng, người dân cần có sóng di động, Internet đủ ổn định và thiết bị phù hợp. Nếu tín hiệu chập chờn, cơ hội tiếp cận thị trường cũng bị thu hẹp. Vì thế, xóa vùng lõm sóng không chỉ nhằm bảo đảm liên lạc, mà còn tạo điều kiện để người dân tham gia vào những hoạt động kinh tế mới.

Còn khoảng 400 thôn, bản có tình trạng lõm sóng

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong giai đoạn 2021-2025, các doanh nghiệp viễn thông đã phối hợp triển khai phủ sóng tại 3.245 thôn, bản lõm sóng, đưa tỷ lệ thôn, bản có kết nối băng rộng di động lên 99,56%. Tính đến tháng 9.2026, mạng 5G đã phủ sóng 91,99% dân số, trong khi cáp quang được triển khai đến 100% xã, phường.

Đài truyền thanh cơ sở đưa thông tin đến với người dân xã Pù Nhi, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Thu Hạnh
Đài truyền thanh cơ sở đưa thông tin đến với người dân xã Pù Nhi, tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Thu Hạnh

Tuy nhiên, theo rà soát năm 2026, cả nước vẫn còn khoảng 400 thôn, bản tại 13 tỉnh, thành phố có tình trạng lõm sóng. Đây chủ yếu là những địa bàn địa hình phức tạp, dân cư phân tán, chi phí đầu tư lớn, khiến việc xây dựng và duy trì hạ tầng viễn thông gặp nhiều khó khăn.

Những khoảng trống kết nối ấy khiến người dân khó tiếp cận đầy đủ các tiện ích số. Không chỉ hoạt động kinh doanh trực tuyến bị hạn chế, việc cập nhật thông tin thời tiết, nhận cảnh báo thiên tai, tìm hiểu chính sách hỗ trợ sản xuất hay tra cứu thủ tục hành chính cũng có thể gặp trở ngại.

Giai đoạn 2021-2025, các doanh nghiệp viễn thông đã đầu tư xây mới và duy trì 1.817 trạm BTS cung cấp dịch vụ di động, cùng 1.755 công trình hạ tầng viễn thông băng rộng cố định. Hơn 900.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông; khoảng 4.500 cơ sở giáo dục và gần 1.100 trạm y tế tại các xã đặc biệt khó khăn được hỗ trợ Internet băng rộng cố định mặt đất.

Dù vậy, có sóng chưa đồng nghĩa người dân đã đủ điều kiện khai thác các cơ hội trên môi trường số. Với hộ nghèo, chi phí mua điện thoại thông minh và duy trì cước Internet vẫn là rào cản. Người dân cũng cần được hướng dẫn kỹ năng tìm kiếm thông tin chính thống, sử dụng dịch vụ công trực tuyến và bán hàng an toàn trên mạng.

Do đó, cùng với đầu tư hạ tầng, cần hỗ trợ thiết bị đầu cuối, chi phí sử dụng cho nhóm khó khăn; phát huy điểm truy cập Internet cộng đồng, tủ sách và thư viện số. Hệ thống thông tin cơ sở tiếp tục giữ vai trò đưa cảnh báo thiên tai, chính sách và kiến thức sản xuất đến người dân, nhất là ở những nơi kết nối chưa ổn định.

Giai đoạn 2026–2030, Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích không chỉ tập trung phát triển hạ tầng mà còn hướng tới bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bình đẳng, thu hẹp khoảng cách số, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo.

Kế thừa chương trình giai đoạn trước, chương trình mới được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển hạ tầng số, chuyển đổi số quốc gia và bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó, ưu tiên hỗ trợ các địa bàn đặc biệt khó khăn và nhóm đối tượng yếu thế, triển khai có trọng tâm, phù hợp với nhu cầu thực tế và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân.

Chương trình xác định hai nhóm nhiệm vụ cốt lõi là hỗ trợ phát triển hạ tầng và hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ viễn thông công ích. Về hạ tầng, phạm vi hỗ trợ được mở rộng đến các thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời bổ sung nhiệm vụ nâng cấp hạ tầng viễn thông, bảo đảm thông tin liên lạc trong tình huống khẩn cấp.

Một điểm mới đáng chú ý là tất cả hộ nghèo, hộ cận nghèo trên cả nước đều được lựa chọn sử dụng dịch vụ viễn thông di động mặt đất hoặc Internet băng rộng cố định mặt đất, thay vì giới hạn tại các khu vực đặc biệt khó khăn như trước đây.

Đối với những nơi dân cư thưa thớt, chưa có điện lưới, khó xây dựng trạm phát sóng, chương trình bổ sung hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông qua mạng vệ tinh tầm thấp tại các điểm cộng đồng. Bên cạnh đó, việc tiếp tục hỗ trợ cước Internet băng rộng cho trường mầm non, trường phổ thông, kể cả điểm trường lẻ, trạm y tế và điểm hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin vùng dân tộc thiểu số sẽ tạo điều kiện thúc đẩy người dân tiếp cận các dịch vụ số thiết yếu.

Với những điều chỉnh này, chương trình giai đoạn 2026–2030 được kỳ vọng góp phần thu hẹp khoảng cách số, nâng cao dân trí, mở rộng cơ hội phát triển và thúc đẩy vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi tham gia sâu hơn vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Từ câu chuyện Mai Tây Bắc bán nông sản qua mạng đến những video quảng bá quê hương của A Tủa Phình Hồ, có thể thấy kết nối số đang mở thêm con đường phát triển sinh kế cho người dân vùng cao. Để con đường ấy không dừng lại ở những nơi thuận lợi, việc xóa vùng lõm sóng cần đi cùng hỗ trợ thiết bị, chi phí và kỹ năng sử dụng. Khi người dân có thể kết nối, tiếp cận thị trường và chủ động đưa sản phẩm ra ngoài bản làng, hạ tầng viễn thông mới thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục