Tốc độ tăng năng suất lao động hàng năm. Đồ họa: TKTS
Tốc độ tăng năng suất lao động hàng năm. Đồ họa: TKTS

Giải bài toán năng suất lao động để bứt phá về thu nhập

Minh Quang (báo lao động) 04/11/2025 08:46 (GMT+7)

Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đang lấy ý kiến nhân dân đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân/năm đạt 10% trở lên. Để đảm bảo điều này, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân mỗi năm phải đạt trên 8,5%.

Năng suất tăng đều nhưng vẫn thấp

Trong hơn một thập niên qua, dù kinh tế toàn cầu trải qua nhiều cú sốc lớn, Việt Nam vẫn duy trì được đà cải thiện năng suất ổn định.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024, năng suất lao động toàn nền kinh tế ước đạt 221,9 triệu đồng/lao động (tương đương 9.182USD/lao động), tăng thêm 726USD so với năm 2023. Tốc độ tăng đạt 5,88%, phản ánh chất lượng tăng trưởng đã dần dựa nhiều hơn vào công nghệ, kỹ năng và đổi mới tổ chức sản xuất, thay vì chỉ gia tăng đầu vào lao động như trước đây.

Mới đây, báo cáo trước Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho rằng, mô hình tăng trưởng hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động, trong khi các động lực bền vững như đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức còn yếu, làm tăng nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Ông Mãi thông tin: Số liệu trong báo cáo, năng suất lao động bình quân giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng 5,24%/năm, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 6,5%.

Tính trung bình dài hạn, giai đoạn 2016 - 2023, năng suất lao động của Việt Nam tăng khoảng 5,6% mỗi năm - mức cao trong khu vực châu Á và vượt phần lớn các nước ASEAN.

Giữa tháng 9.2025, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tổ chức lễ công bố báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) tại Geneva. Theo báo cáo này, Việt Nam là một trong ba quốc gia (Trung Quốc, Việt Nam, Ethiopia) có tốc độ tăng trưởng năng suất lao động nhanh nhất trong giai đoạn 2014 - 2024.

Bức tranh năng suất nhìn theo ngành cho thấy, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ vẫn là hai “đầu kéo” chính, trong khi nông nghiệp - dù đã rút ngắn khoảng cách - vẫn còn thấp hơn đáng kể so với mức trung bình chung của khu vực. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế rõ rệt hơn về các ngành có giá trị gia tăng cao là tín hiệu đáng mừng, nhưng đi kèm đó là yêu cầu cấp thiết phải đổi mới công nghệ, chuẩn hóa quy trình và nâng cao năng lực quản trị để tránh rơi vào “trần năng suất” của mô hình gia công - lắp ráp.

Ở góc độ doanh nghiệp, khoảng cách về năng suất giữa các khu vực vẫn rất lớn. Khu vực FDI có năng suất cao hơn hẳn khu vực tư nhân trong nước, trong khi doanh nghiệp Nhà nước lại chịu sức ỳ về quản trị. Chênh lệch này bắt nguồn từ trình độ công nghệ, vốn, và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc thu hẹp khoảng cách ấy sẽ là “vùng địa chấn năng suất” trong 5 - 10 năm tới, khi khu vực tư nhân đang ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu GDP.

Nhằm tạo nền tảng chính sách cho giai đoạn mới, Chính phủ đã ban hành Chương trình quốc gia về tăng năng suất lao động đến năm 2030 (Quyết định 1305/QĐ-TTg, tháng 11.2023), xác định năng suất là động lực quan trọng của tăng trưởng nhanh, bền vững, với trọng tâm là cải thiện thể chế, nâng cao chất lượng nhân lực và thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Cần rút ngắn khoảng cách năng suất

Theo phương pháp PPP, năm 2023, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 11,2% của Singapore, 27% Hàn Quốc, 28,6% Nhật Bản, 36,2% Malaysia và khoảng 65% của Thái Lan. Khoảng cách này chính là “bài toán nền” nếu Việt Nam muốn vươn lên nhóm nước có thu nhập cao.

Tuy nhiên, lợi thế của Việt Nam là tốc độ tăng năng suất thuộc nhóm tốt nhất châu Á - trung bình 5,6%/năm trong giai đoạn 2016 - 2023 - cao hơn đáng kể so với Singapore, Malaysia hay Thái Lan. Điều đó cho thấy dư địa “đuổi kịp” là hoàn toàn khả thi nếu duy trì được tốc độ hiện tại, đồng thời chuyển trọng tâm sang các yếu tố nâng chất: Đổi mới công nghệ, nâng tỉ lệ nội địa hóa và gia tăng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).

Mục tiêu 8,5%/năm: Thách thức lớn nhưng không bất khả thi

Năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP phấn đấu đạt 10% trở lên; GDP bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500USD; CPI bình quân tăng khoảng 4,5%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 8%.

Về dài hạn, Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng định hướng giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu năng suất lao động tăng trên 8,5%/năm, TFP (năng suất các nhân tố tổng hợp) đóng góp hơn 55% và kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP. Đó là mục tiêu đầy tham vọng - và cũng là “điểm gãy” bắt buộc nếu Việt Nam muốn bứt phá về thu nhập bình quân đầu người.

Để tăng trưởng từ 5,6% lên 8,5%/năm, kinh tế cần đột phá về thể chế, hạ tầng và nhân lực. Thay vì mở rộng đầu vào truyền thống, phải chuyển sang tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ và quản trị. Đầu tư cần hiệu quả, chọn dự án có tác động lan tỏa, đồng thời tái cấu trúc lao động và đào tạo kỹ năng số theo nhu cầu doanh nghiệp.

Cốt lõi của quá trình này là chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp làm chủ dữ liệu, quản trị sản xuất theo thời gian thực, kết hợp tự động hóa thông minh và tiêu chuẩn quốc tế, năng suất không chỉ tăng, mà còn tạo ra năng lực cạnh tranh mới.

Theo TS Nguyễn Tùng Lâm - Viện trưởng Viện Năng suất Việt Nam: “Cần có sự đánh giá, phân loại và thiết lập các chương trình hỗ trợ cải thiện năng suất doanh nghiệp phù hợp, phát triển chuyên gia năng suất, cải thiện năng lực quản trị, đào tạo kỹ năng, hỗ trợ vay vốn, đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực đáp ứng xu hướng về phát triển bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số để có thể tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu”.

Các chuyên gia cũng nhận định, hạ tầng cũng là “đòn bẩy” của năng suất. Đầu tư vào hạ tầng số (cloud, 5G/6G, trung tâm dữ liệu), logistics xuyên vùng và năng lượng sạch không chỉ giảm chi phí sản xuất - lưu thông mà còn tạo điều kiện cho tự động hóa. Mỗi một đồng đầu tư đúng chỗ vào hạ tầng số hay năng lượng xanh đều góp phần trực tiếp vào năng suất quốc gia.

Và trên hết, nguồn nhân lực chính là bản lề. Việt Nam đang triển khai khung kỹ năng số quốc gia cho các ngành then chốt như cơ điện tử, bán dẫn, vật liệu, sinh học số, logistics, an toàn thông tin… Việc “đặt hàng” giữa doanh nghiệp và trường nghề, cùng chuẩn hóa đánh giá kỹ năng, sẽ giúp giảm lệch pha cung - cầu, biến đào tạo thành động lực thực sự của năng suất.

Tăng năng suất lao động không phải câu chuyện riêng của một ngành, một doanh nghiệp hay một năm kế hoạch. Đó là cuộc cải cách tổng thể - từ tư duy lãnh đạo đến cách làm của từng người lao động.

Nếu làm được điều đó, mục tiêu GDP tăng bình quân 10%/năm và năng suất lao động trên 8,5%/năm sẽ khả thi, trở thành năng lực nội sinh mới của nền kinh tế. Việt Nam hoàn toàn có thể rút ngắn khoảng cách năng suất, thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, tiến vững chắc trên con đường trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục