4 trường hợp không bị coi là trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN từ 30.11.2025
Ông Tuấn Hà (Hà Nội) hỏi: Những trường hợp nào không bị coi là trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN?
Bà Dương Thị Minh Châu - Trưởng phòng Tuyên truyền và Hỗ trợ người tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) TP Hà Nội cho biết:
Theo Nghị định số 274/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về chậm đóng, trốn đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); khiếu nại, tố cáo về BHXH (Nghị định số 274/2025/NĐ-CP), có hiệu lực từ ngày 30.11.2025, có 4 trường hợp không bị xem là trốn đóng BHXH bắt buộc và BHTN.
Cụ thể, căn cứ Điều 4 Nghị định số 274/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp không bị coi là trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN từ ngày 30.11.2025 như sau:
Các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật BHXH năm 2024 không bị coi là trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN khi có một trong các lý do sau theo công bố của cơ quan có thẩm quyền về phòng, tránh thiên tai, tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự và phòng, chống dịch bệnh, bao gồm:
- Bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tài chính của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
- Tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đột xuất, bất ngờ đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
- Các sự kiện bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật dân sự.
*Về xác định số ngày doanh nghiệp, đơn vị trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN, đại diện BHXH TP Hà Nội cho biết:
Số ngày trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN được xác định bắt đầu từ ngày sau thời hạn đóng BHXH chậm nhất quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 28 và khoản 4 Điều 34 Luật BHXH năm 2024 hoặc sau thời hạn đóng BHTN chậm nhất theo quy định của pháp luật về BHTN.
Trường hợp trốn đóng theo điểm c, d khoản 1 Điều 39 Luật BHXH năm 2024
Đối với các phương thức đóng hàng tháng: Số ngày trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN được xác định bắt đầu từ sau ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng phát sinh tiền lương đã đăng ký làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật BHXH năm 2024.
Đối với phương thức đóng 03 tháng một lần hoặc 06 tháng một lần: Số ngày trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN được xác định bắt đầu từ sau ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng đã đăng ký làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật BHXH năm 2024.
Trường hợp trốn đóng theo điểm đ, e khoản 1 Điều 39 Luật BHXH năm 2024
Đối với đơn vị sử dụng lao động đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định trong thời hạn 45 ngày kể từ sau thời hạn đóng BHXH chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật BHXH năm 2024: Số ngày trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN được xác định bắt đầu từ sau 60 ngày kể từ sau thời hạn đóng BHXH chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật BHXH năm 2024 hoặc sau thời hạn đóng BHTN chậm nhất theo quy định của pháp luật về BHTN.
Đối với đơn vị sử dụng lao động đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định sau 45 ngày kể từ sau thời hạn đóng BHXH chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật BHXH năm 2024: Số ngày trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN được xác định từ ngày thứ 15 kể từ ngày ban hành văn bản đôn đốc của cơ quan có thẩm quyền.
Xem bản gốc tại đây
- Không xử lý mạnh tay nợ BHXH, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ đánh mất niềm tin xã hội
- Luật đã trao quyền, cơ quan BHXH phải làm tròn trách nhiệm với người lao động
- Cơ quan BHXH có trách nhiệm xác định chậm đóng, trốn đóng BHXH bắt buộc
- 598 đơn vị mất khả năng thu hồi nợ BHXH - lỗ hổng trong giám sát của cơ quan BHXH