Vấn đề lao động - nhìn từ chuyến đi Ấn Độ
Tháng 11.2025, tôi đã có dịp đi Ấn Độ dài ngày Và một vấn đề tôi rất quan tâm, đó là vấn đề lao động ở Ấn Độ. Khi đến thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ, tôi hỏi anh Nguyễn Thanh Hải Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ: “Ấn Độ là nước quan hệ sâu sắc với Việt Nam từ những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Neru còn tại dương, những năm 60 của thế kỷ XX. Chắc hiện nay số lượng người Việt nam tại Ấn Độ nhiều lắm?”.
Anh Hải nói, tính đến năm 2025, số lượng người Việt Nam đang làm việc và sinh sống tại Ấn Độ không quá 1.000 người. Thế là ít. Và tôi đi tìm câu trả lời: “Vì sao?”.
Lao động Ấn Độ gần đây
Quy mô và cơ cấu lực lượng lao động Ấn Độ. Dân số Ấn Độ hiện nay hơn 1,42 tỉ người (lớn nhất thế giới, nhiều hơn cả Trung Quốc). Lực lượng lao động khoảng 560–600 triệu người, lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc. Tỉ lệ thất nghiệp và việc làm dao động 4–7%, nhưng thất nghiệp thanh niên (15–29 tuổi) cao hơn nhiều, có thời điểm 15–20%. Việc làm phi chính thức chiếm tới 80–90% tổng số việc làm. Lao động nữ là vấn đề nổi bật, Chỉ khoảng 25–30%, thấp nhất trong nhóm các nền kinh tế lớn. Nguyên nhân là rào cản văn hóa – xã hội, thiếu việc làm phù hợp, an toàn cho phụ nữ. Nhưng Phụ nữ Ấn Độ chịu gánh nặng việc gia đình. Thách thức lớn cho Ấn Độ là phải tạo đủ việc làm cho 12–15 triệu người gia nhập thị trường lao động mỗi năm. Chênh lệch lớn giữa Lao động có kỹ năng cao và lao động phổ thông. Năng suất lao động thấp, Việc làm bấp bênh, thiếu an sinh. Nhưng Ấn Độ đang ở “thời kỳ dân số vàng”, thị trường lao động rất lớn và năng động, nhưng chất lượng việc làm chưa tương xứng với quy mô lao động.
Trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế đang phát triển, lao động trở thành yếu tố then chốt quyết định sức bật quốc gia. So sánh lao động Ấn Độ và Việt Nam cho thấy, không chỉ sự khác biệt về quy mô, mà còn là hai mô hình phát triển nhân lực với những ưu thế và giới hạn riêng. Ấn Độ hiện là quốc gia đông dân nhất thế giới, với lực lượng lao động ước khoảng 600 triệu người. Lợi thế “dân số vàng” của Ấn Độ còn kéo dài nhiều thập niên, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, quy mô khổng lồ ấy cũng đặt ra thách thức lớn về tạo việc làm, đào tạo kỹ năng và quản trị xã hội trong một không gian đa ngôn ngữ, đa tôn giáo, đa đẳng cấp.
Lao động Ấn Độ nổi bật ở “đỉnh cao tri thức”. Nước này là một trong những trung tâm cung ứng lớn nhất thế giới về công nghệ thông tin, kỹ sư phần mềm, y khoa và tài chính. Lao động trí thức Ấn Độ hiện diện sâu trong các tập đoàn và viện nghiên cứu toàn cầu. Tuy nhiên, mặt bằng chung của lao động Ấn Độ lại phân hóa mạnh. Một bộ phận lớn lao động vẫn làm việc trong khu vực phi chính thức, kỹ năng nghề thấp, tiếp cận giáo dục và đào tạo không đồng đều giữa các bang. Ngược lại, Việt Nam không có nhiều nhân lực “đỉnh cao” toàn cầu, nhưng sở hữu “mặt bằng kỹ năng tương đối đồng đều”, khả năng học nghề nhanh và thích ứng tốt với công nghệ nhập khẩu. Đây là nền tảng quan trọng cho sản xuất công nghiệp và thu hút FDI.
Về danh nghĩa, lao động phổ thông tại nhiều bang của Ấn Độ rẻ hơn Việt Nam. Song chi phí thực tế mà doanh nghiệp phải gánh – bao gồm đào tạo, quản lý và rủi ro xã hội – không hẳn thấp. Việt Nam dù lương tăng nhanh, nhưng bù lại là hiệu suất ổn định và môi trường đầu tư an toàn.
Ấn Độ chủ yếu xuất khẩu lao động chất lượng cao sang Mỹ, châu Âu và Trung Đông. Việt Nam tập trung vào lao động kỹ thuật trung bình tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Hai dòng lao động này không cạnh tranh trực tiếp mà bổ sung cho nhau trong cấu trúc thị trường lao động toàn cầu.
Vì sao chưa nhiều người Việt Nam sang Ấn Độ làm việc và sinh sống?
Trong dòng chảy di cư lao động và làm ăn ra nước ngoài của người Việt Nam, Ấn Độ gần như là một khoảng trống. Trong khi người Việt hiện diện đông đảo tại Đông Á, châu Âu, Bắc Mỹ và một số nước Trung Đông, thì tại Ấn Độ – quốc gia đông dân nhất thế giới, có quan hệ hữu nghị lâu đời với Việt Nam – cộng đồng người Việt lại rất nhỏ. Thực tế này phản ánh những khác biệt căn bản về động lực kinh tế, cấu trúc xã hội và điều kiện sinh sống.
Trước hết, Ấn Độ không tạo ra sức hút kinh tế rõ rệt đối với người Việt. Động cơ chính của việc ra nước ngoài làm ăn là tìm kiếm thu nhập cao hơn và cơ hội tích lũy tốt hơn. Trong khi các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay châu Âu mang lại chênh lệch thu nhập rõ ràng, thì mức sống và thu nhập bình quân tại Ấn Độ không vượt trội so với Việt Nam, thậm chí thấp hơn ở nhiều khu vực. Với lao động phổ thông và kinh doanh nhỏ, Ấn Độ không phải là “miền đất hứa”. Trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ, sản xuất nhỏ – nơi người Việt thường tìm cơ hội khi ra nước ngoài, người đến sau rất khó đứng vững nếu không có vốn lớn hoặc lợi thế đặc thù. Rào cản văn hóa – xã hội là yếu tố quan trọng. Ấn Độ là xã hội đa tôn giáo, đa ngôn ngữ, nơi đời sống chịu ảnh hưởng sâu sắc của tín ngưỡng và tập quán địa phương. Đối với người Việt quen với môi trường văn hóa tương đối đồng nhất, sự khác biệt về ẩm thực, vệ sinh công cộng, nhịp sống và không gian xã hội tạo nên cú sốc thích nghi không nhỏ, đặc biệt khi sinh sống lâu dài. Ngôn ngữ không mang lại lợi thế rõ ràng, dù tiếng Anh rất phổ biến ở Ấn Độ, nhưng cách phát âm, bối cảnh giao tiếp và sự tồn tại song song của nhiều ngôn ngữ địa phương khiến việc hòa nhập xã hội và làm ăn bền vững trở nên khó khăn đối với người Việt, nếu không có chuẩn bị dài hạn. Thiếu cộng đồng người Việt ở Ấn làm chỗ dựa. Ở nhiều quốc gia, dòng di cư của người Việt phát triển nhờ hiệu ứng cộng đồng – người đi trước hỗ trợ người đi sau. Tại Ấn Độ, cộng đồng người Việt còn rất nhỏ, chủ yếu là cán bộ ngoại giao, lưu học sinh, tăng ni và doanh nhân ngắn hạn, chưa đủ để tạo thành mạng lưới sinh kế. Trong nhận thức xã hội, Ấn Độ được người Việt nhìn nhận nhiều hơn như một không gian văn hóa – tâm linh – học thuật, hơn là điểm đến mưu sinh. Đây là vùng đất được kính trọng, nhưng chưa phải là lựa chọn phổ biến cho làm ăn và định cư. Như vậy, việc người Việt Nam ít sang Ấn Độ sinh sống và làm ăn không xuất phát từ khoảng cách chính trị, mà từ sự thiếu tương thích về động lực kinh tế và điều kiện xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, Ấn Độ vẫn là “đất học, đất thiêng” trong cảm nhận người Việt, hơn là “đất mưu sinh”.
Nhưng người Ấn Độ lại sang Việt Nam làm việc ngày càng nhiều ?
Trái ngược với chiều đi của người Việt, trong hơn một thập niên qua, số người Ấn Độ sang Việt Nam làm việc, đầu tư và sinh sống đang tăng rõ rệt. Hiện tượng này phản ánh sự hấp dẫn ngày càng lớn của Việt Nam trong con mắt lao động và doanh nhân Ấn Độ. Trước hết, Việt Nam nổi lên như một điểm đến kinh tế ổn định và dễ tiếp cận. So với môi trường cạnh tranh khốc liệt tại Ấn Độ, Việt Nam mang lại không gian làm ăn “dễ thở” hơn: Quy mô dân số vừa phải, thị trường đang mở rộng, thủ tục đầu tư ngày càng thông thoáng và môi trường xã hội an toàn. Cơ cấu nhu cầu lao động của Việt Nam trùng khớp với thế mạnh của Ấn Độ. Việt Nam đang thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, phần mềm, kỹ thuật, dược phẩm, quản trị doanh nghiệp – những ngành mà Ấn Độ có nguồn nhân lực dồi dào và giàu kinh nghiệm. Đây là lý do khiến chuyên gia Ấn Độ dễ tìm được vị trí phù hợp tại Việt Nam. Chi phí sinh sống và chất lượng cuộc sống tại Việt Nam hấp dẫn. So với các đại đô thị như Delhi, Mumbai hay Bangalore, các thành phố Việt Nam có chi phí thấp hơn, môi trường sống ít áp lực hơn, trong khi vẫn bảo đảm tiện ích đô thị và an toàn xã hội. Với cùng mức thu nhập, người Ấn Độ có thể đạt chất lượng sống cao hơn khi làm việc tại Việt Nam. Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Ấn Độ cũng tạo nền tảng chính trị – pháp lý thuận lợi, giúp doanh nghiệp và công dân Ấn Độ yên tâm gắn bó lâu dài. Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam ít xung đột tôn giáo, người dân thân thiện với người nước ngoài, giúp quá trình hòa nhập diễn ra tương đối thuận lợi. Không ít người Ấn Độ còn coi Việt Nam là bàn đạp để tiếp cận thị trường ASEAN, trong chiến lược “Hướng Đông” của New Delhi. Từ Việt Nam, họ có thể mở rộng hoạt động sang các nước Đông Nam Á một cách linh hoạt.
Hai dòng di cư ngược chiều giữa Việt Nam và Ấn Độ cho thấy: Di cư lao động không chỉ phụ thuộc vào quy mô dân số hay quan hệ chính trị, mà quyết định bởi mức độ tương thích giữa nhu cầu con người và cấu trúc phát triển của mỗi quốc gia. Người Việt tìm đến nơi có chênh lệch thu nhập cao; người Ấn tìm đến nơi có môi trường ổn định và cơ hội mở rộng. Đó chính là logic sâu xa của sự dịch chuyển trong một châu Á đang biến đổi. So sánh lao động Ấn Độ và Việt Nam ta thấy, làn sóng lao động Ấn Độ vào Việt Nam ngày càng nhiều thêm và người Việt Nam làm việc và sinh sống tại Ấn Độ ít là tất nhiên.
Hà Nội, đầu xuân 2026, LTL
Xem bản gốc tại đây