Tốt nghiệp loại giỏi vẫn khó đáp ứng yêu cầu tuyển dụng
Nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi vẫn khó tìm việc do thiếu kỹ năng thực tế, chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
Tân cử nhân chỉ đáp ứng 1/7 kỹ năng được khảo sát
Khảo sát gần 400 doanh nghiệp tại Hà Nội và TPHCM cho thấy, tân cử nhân mới chỉ đáp ứng 1/7 năng lực mà nhà tuyển dụng yêu cầu. Con số đáng chú ý này đến từ Báo cáo Nâng tầm nhân lực Việt Nam 2026 do Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) và Decision Lab công bố hồi đầu tháng 10.
6 nhóm ngành khảo sát gồm: Công nghệ và kinh tế số, Kinh doanh và tiếp thị, Hậu cần và chuỗi cung ứng, Khách sạn và du lịch, Sản xuất và công nghiệp 4.0, Tài chính và ngân hàng.
Kết quả cho thấy, nhà tuyển dụng đánh giá 7 năng lực của người mới ra trường, bao gồm: Làm việc nhóm và hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng, quản lý thời gian, tư duy phản biện và năng lực số ở mức độ rất quan trọng với tỉ lệ dao động 74-86%. Riêng giao tiếp, làm việc nhóm và hợp tác là các năng lực được chú trọng nhất với người mới ra trường, tỉ lệ lần lượt là 85% và 86%.
Quản lý thời gian là thiếu hụt lớn nhất của người mới tốt nghiệp khi chỉ đạt mức hiệu suất 54%, trong khi nhà tuyển dụng đánh giá yếu tố này quan trọng với tỉ lệ 80%, tạo ra sự chênh lệch khá lớn. Tiếp đến là năng lực giải quyết vấn đề, mức độ quan trọng là 84% trong khi người mới chỉ đáp ứng được 61%.
Các nhóm tiếp theo có mức chênh lêch nhỏ hơn, khi giao tiếp được đánh giá quan trọng với tỉ lệ 84% trong khi lao động đáp ứng được 72%. Năng lực số là điểm duy nhất mà sinh viên mới tốt nghiệp đáp ứng được với kỳ vọng, đạt 77% hiệu suất so với 74% mức độ quan trọng.
Khoảng cách giữa nhu cầu doanh nghiệp và năng lực người mới ra trường
Nói về vấn đề này, GS.TS Rick Bennett - Phó Hiệu trưởng kiêm Phó Chủ tịch Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) cho rằng, trong nhiều thập kỷ, bằng đại học được xem là một trong những chứng nhận đáng tin cậy nhất. Tấm bằng cho thấy, người sở hữu đã trải qua quá trình học tập, được kiểm tra, đánh giá và chứng minh được kiến thức của mình.
Tuy nhiên, GS.TS Rick Bennett nhận thấy, thế giới xung quanh tấm bằng đã thay đổi rất nhanh và các trường đại học cũng thay đổi. Trọng tâm đang dịch chuyển từ lý thuyết, tranh luận học thuật sang tính ứng dụng và chuẩn bị cho người học bước vào môi trường làm việc.
Sinh viên ngày càng ưu tiên các ngành có cơ hội nghề nghiệp rõ ràng như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tài chính, chuỗi cung ứng và khoa học sức khỏe, thay vì các ngành nhân văn.
Chia sẻ quan điểm trước thực trạng nhiều sinh viên có kết quả học tập tốt nhưng vẫn gặp khó khăn khi bước vào môi trường doanh nghiệp, PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, khoảng cách lớn nhất không nằm ở kiến thức. Nó nằm ở chỗ bài toán trên giảng đường đã được thiết kế sẵn, còn ngoài doanh nghiệp thì chưa.
“Sinh viên giỏi là người giải nhanh một đề bài rõ ràng. Nhà quản trị trẻ phải tự xác định đâu là vấn đề cốt lõi, trọng tâm giữa một mớ sự việc chưa ai sắp xếp” - ông Tuấn nói.
Hợp tác “ba nhà” là bài toán giúp nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo
GS.TS Rick Bennett cho hay, cách tiếp cận trước đây thường là: “Đây là các chương trình đào tạo của chúng tôi. Đây là những gì chúng tôi sẽ cung cấp. Nếu bạn muốn, hãy đến và học. Chúng tôi biết điều gì là tốt nhất cho bạn”. Song, ông cho hay, xã hội hiện nay đang thay đổi quá nhanh để giáo dục có thể tiếp tục vận hành theo cách đó. Các trường đại học đã phải thích nghi, và phải thích nghi rất nhanh.
Đồng quan điểm, TS Vũ Văn Ngọc - Viện trưởng Viện Đào tạo Tiên tiến, Chất lượng cao, Phân tích kinh doanh & POHE, Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, gắn kết giữa trường đại học và doanh nghiệp mang lại lợi ích cho các bên.
Đối với nhà trường, hợp tác với doanh nghiệp giúp giảng viên, sinh viên tiếp cận kiến thức, kinh nghiệm thực tế, qua đó hoàn thiện chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Doanh nghiệp có thể tuyển được sinh viên đáp ứng yêu cầu, giảm chi phí đào tạo lại. Với sinh viên, đây là cơ hội tiếp cận kiến thức mới, củng cố kỹ năng và nâng cao khả năng tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.
Từ thực tiễn giảng dạy, theo TS Vũ Văn Ngọc, để việc hợp tác đạt hiệu quả, cần xác định nhà trường và doanh nghiệp là đối tác cộng sinh, hợp tác trên cơ sở đồng lợi ích. Hai bên cần xây dựng cơ chế đối thoại thường xuyên, bộ phận chuyên trách về quan hệ doanh nghiệp và hệ thống cơ sở dữ liệu chung về đối tác.
Đọc bản gốc tại đây