Lao động nông nghiệp khó chuyển nghề dù nhiều việc làm
Nhu cầu tuyển dụng và tìm việc tại TP Cần Thơ tương đương nhau về quy mô, nhưng lao động nông nghiệp vẫn gặp khó khi chuyển đổi nghề do tính mùa vụ, cơ giới hóa và hạn chế về kỹ năng.
Lệch pha cung - cầu
Qua số liệu thu thập được từ 349 lượt doanh nghiệp, Trung tâm Dịch vụ việc làm (DVVL) TP Cần Thơ ghi nhận nhu cầu tuyển dụng 24.173 vị trí việc làm và nhu cầu tìm việc của 24.347 lượt người lao động trong quý III/2026.
Theo trung tâm, mặc dù quy mô tổng thể tương đương, cung và cầu lao động vẫn chưa cân đối ở một số nhóm nghề, thể hiện qua sự khác biệt giữa nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và nhu cầu tìm việc của người lao động.
Trong đó, nhóm nghề có sự chênh lệch cung - cầu lao động lớn là nhóm Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Ngư nghiệp. Nguyên nhân xuất phát từ sự kết hợp giữa tính chất mùa vụ, quá trình cơ giới hóa và hạn chế về năng lực chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động.
Ông Nguyễn Văn Hùng (42 tuổi, lao động tự do tại xã Thới Lai) cho biết, máy móc đang thay thế nhiều công đoạn từ làm đất, gieo sạ đến thu hoạch, khiến số ngày công làm thuê trên đồng ruộng giảm dần.
“Tôi cũng muốn chuyển sang làm việc tại xưởng chế biến hoặc nhà máy để có công việc ổn định. Tuy nhiên, bản thân lại gặp khó khăn khi tiếp cận những vị trí đòi hỏi tuân thủ kỷ luật lao động, quy trình sản xuất và yêu cầu công việc trong môi trường công nghiệp”, ông Hùng chia sẻ.
Tương tự, ông Lê Văn Tám (53 tuổi, lao động tự do tại xã Phong Điền, TP Cần Thơ) chia sẻ: “Trước đây, tôi làm thuê theo mùa vụ như dọn cỏ, xịt thuốc, thu hoạch trái cây nên thu nhập không ổn định. Tôi muốn chuyển sang làm công nhân để có thu nhập hằng tháng, nhưng tuổi đã ngoài 50, quen lao động tự do nên khó thích nghi với môi trường nhà máy, nhất là yêu cầu về độ tuổi và ca kíp”.
Rào cản khi vào nhà máy
Nhận định về thực trạng này, Thạc sĩ Chính sách công Nguyễn Tuấn Anh - Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn - phân tích: “Cốt lõi của vấn đề là việc làm đang thay đổi nhanh hơn khả năng chuyển đổi nghề của một bộ phận người lao động. Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng, người dân cũng có nhu cầu đi làm, nhưng hai bên chưa gặp nhau về kỹ năng, độ tuổi, địa điểm làm việc hoặc mức thu nhập có thể chấp nhận”.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Anh, với lao động nông nghiệp, chúng ta còn phải nhìn vào tính mùa vụ. Vào thời điểm xuống giống, thu hoạch, nhu cầu nhân công có thể tăng, nhưng giữa các vụ lại thiếu việc. Khi máy móc thay thế một số công đoạn, số ngày công làm thuê có thể giảm thêm.
Trong khi đó, chuyển sang nhà máy hay ngành dịch vụ không đơn giản là đổi nơi làm việc. Người lao động còn phải làm quen với quy trình, ca kíp, yêu cầu về an toàn và cách phối hợp trong một môi trường khác hẳn.
“Theo tôi, không nên nhìn số lượng tuyển dụng rồi kết luận người lao động có nhiều cơ hội tìm được việc. Con số ấy phản ánh nhu cầu mà doanh nghiệp công bố tại một thời điểm. Khả năng tiếp cận thực tế lại là câu chuyện khác”, Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Anh đánh giá.
Ở góc độ chính sách công, Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, hiệu quả kết nối cung - cầu lao động cần được đánh giá xuyên suốt quá trình, từ lúc có thông tin tuyển dụng đến khi người lao động thực sự ổn định được việc làm.
Những chỉ số như số người được giới thiệu, số người được tuyển dụng, tỉ lệ còn làm việc sau 3 - 6 tháng và mức cải thiện thu nhập sẽ phản ánh rõ hơn kết quả kết nối.
Xem bản gốc tại đây