Mật độ nhân lực ngành điều dưỡng tại Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và các nước OECD. Ảnh minh họa: Quỳnh Chi
Mật độ nhân lực ngành điều dưỡng tại Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và các nước OECD. Ảnh minh họa: Quỳnh Chi

Nhiều doanh nghiệp gặp khó vì thiếu nhân lực đặc thù

Quỳnh Chi (báo lao động) 08/01/2026 10:54 (GMT+7)

Nhiều doanh nghiệp hiện đang gặp khó vì thiếu nhân lực đặc thù. Đây là vị trí đòi hỏi chứng chỉ hành nghề, kỷ luật nghề nghiệp, khả năng chịu áp lực cao...

Khó lấp đầy

Ông Lương Đức Minh – chủ một hệ thống bệnh viện tư nhân tại phường Xuân Tảo (Hà Nội) cho hay, gần 10 năm vận hành mảng y tế, ông luôn đau đầu vì những vị trí nhân sự khuyết thiếu. Đáng nói, những vị trí tuyển dụng khó khăn đối với doanh nghiệp của ông Minh không đến từ tình trạng thiếu người, ít người, mà còn từ thực tế: Có nhân sự nhưng “ít người chịu làm”.

Theo ông Minh, ngay với vị trí điều dưỡng, hệ thống bệnh viện của ông có thời điểm “vật vã” mới tuyển đủ nhu cầu. “Có thời điểm chúng tôi thiếu hụt kéo dài nhân lực ngành điều dưỡng, áp lực chồng áp lực khi các chi nhánh thiếu cả “đầu người” lẫn “chất lượng ca kíp”. Nhóm nhân sự thì chọn bệnh viện công hoặc các bệnh viện thẩm mỹ, nhóm thì cho rằng thu nhập chúng tôi đưa ra chưa tương xứng. Trong bối cảnh Việt Nam hiện chỉ có khoảng 14–15 điều dưỡng/10.000 dân, thấp hơn nhiều nước trong khu vực thì hệ quả thường thấy là tải công việc/ca trực tăng, mức độ kiệt sức lớn hơn, kéo theo vòng xoáy nghỉ việc – thiếu người – quá tải – nghỉ việc”, ông Minh phân tích.

Đáng nói, theo ông Minh, sự thiếu hụt nhân lực nhóm nghề này không thể “tuyển bù” bằng lao động phổ thông, cũng không dễ lấp đầy bằng đào tạo ngắn hạn.

Cũng gặp khó khăn như ông Minh, bà Nguyễn Ngọc Anh – Giám đốc Công ty Dịch vụ phần mềm và chuyển đổi số TMT (phường Ba Đình, Hà Nội) cho biết, suốt 3 năm nay, năm nào công ty của bà cũng “khát” nhân lực công nghệ.

Theo bà Ngọc Anh, suốt 3 năm nay, năm nào công ty của bà cũng “khát” nhân lực công nghệ. Ảnh: Biểu đồ khoảng cách cung - cầu nhân lực công nghệ thông tin tại Việt Nam
Theo bà Ngọc Anh, suốt 3 năm nay, năm nào công ty của bà cũng “khát” nhân lực công nghệ. Ảnh: Biểu đồ khoảng cách cung - cầu nhân lực công nghệ thông tin tại Việt Nam

“Đặc biệt, nhu cầu chuyển đổi số làm thị trường nóng lên ở các vị trí kỹ sư phần mềm, dữ liệu, AI, an ninh mạng, vận hành hạ tầng số. Tôi hình dung chúng ta đào tạo nhân lực ngành này không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường. Đặc biệt, điểm nghẽn là “nhân lực công nghệ cao” không chỉ cần kỹ năng lập trình, mà còn cần năng lực tư duy hệ thống, bảo mật, vận hành sản phẩm và hiểu bài toán ngành”, bà Ngọc Anh cho hay.

“Điểm danh” các ngành khát nhân lực, ông Vũ Quang Thành – Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội cho hay, ngoài hai nhóm nổi bật trên, nhiều địa phương/doanh nghiệp còn thiếu nhân lực ngành kỹ thuật điện – tự động hóa trình độ cao, kỹ thuật bảo trì thiết bị công nghiệp, logistics vận hành kho – chuỗi cung ứng, thợ hàn/điện công nghiệp đạt chuẩn. Trong đó, các vị trí làm việc trong điều kiện đặc thù (độc hại, ca kíp, xa nhà) càng khó tuyển người dù mức lương có thể lên tới vài chục triệu đồng/tháng. Từ đó, các nghề này thường gặp “nghịch lý”: Mức lương danh nghĩa tăng nhưng tổng gánh nặng (thời gian, sức khỏe, rủi ro nghề nghiệp, cơ hội thăng tiến) khiến nguồn cung không bền.

Doanh nghiệp tăng ưu đãi để giữ nhân lực đặc thù

Bà Nguyễn Thị Lan Hương – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động xã hội phân tích, trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay, với nhóm lao động đặc thù, tăng lương là cần nhưng chưa đủ. Doanh nghiệp thường phải thiết kế lại tổng đãi ngộ theo 4 lớp.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động xã hội phân tích, trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay, với nhóm nhân lực đặc thù, tăng lương là cần nhưng chưa đủ. Ảnh: Quỳnh Chi
Bà Nguyễn Thị Lan Hương – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động xã hội phân tích, trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay, với nhóm nhân lực đặc thù, tăng lương là cần nhưng chưa đủ. Ảnh: Quỳnh Chi

Về lương – thưởng sẽ theo thị trường và theo độ khó. Doanh nghiệp nên xây dựng mức lương cơ bản cạnh tranh, tránh tình trạng “tuyển được rồi mất vì chênh vài triệu”; có phụ cấp ca kíp/độc hại/đi lại trả minh bạch theo công thức; thưởng trực lễ, thưởng KPI chất lượng; thưởng ký hợp đồng hoặc thưởng giữ chân theo mốc 6–12–24 tháng, giảm rủi ro “nhảy việc sau đào tạo”.

Về phúc lợi “trúng” liên quan đến nhà ở, sức khỏe, gia đình. Nên có nhà ở công vụ/ hỗ trợ thuê nhà, đặc biệt với điều dưỡng, kỹ thuật viên, lao động làm xa trung tâm; bảo hiểm sức khỏe mở rộng, gói khám định kỳ, chăm sóc sức khỏe tinh thần; có hỗ trợ gia đình như phụ cấp gửi trẻ, trợ cấp học phí con, trợ giúp khi ốm đau/hiếu hỉ…

Về lộ trình nghề nghiệp và đào tạo “có cam kết”, bản đồ năng lực gắn với khung lương rõ ràng; tài trợ chứng chỉ (an ninh mạng, cloud, dữ liệu; hoặc chứng chỉ chuyên môn y tế), đi kèm cam kết làm việc hợp lý để tránh đào tạo xong là rời đi; chính sách học việc có lương và hợp tác trường nghề/đại học: doanh nghiệp đặt hàng kỹ năng, nhận thực tập sớm, tuyển trước khi ra trường.

Về điều kiện làm việc nhằm giảm “chi phí vô hình” của nghề, doanh nghiệp ưu tiên sắp xếp giảm việc hành chính bằng công nghệ/quy trình, bố trí nghỉ bù đúng luật, tăng an toàn nghề nghiệp; tạo điều kiện linh hoạt thời gian – làm từ xa, xây dựng văn hóa đánh giá theo hiệu quả.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục