Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, việc tiếp tục điều chỉnh sớm tiền lương tối thiểu vùng với mức phù hợp là quan trọng, cấp bách và hết sức cần thiết đối với người lao động và gia đình họ. Ảnh: Quế Chi
Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, việc tiếp tục điều chỉnh sớm tiền lương tối thiểu vùng với mức phù hợp là quan trọng, cấp bách và hết sức cần thiết đối với người lao động và gia đình họ. Ảnh: Quế Chi

Tổng LĐLĐVN đề xuất điều chỉnh mức lương tối thiểu từ ngày 1.1.2027

Quỳnh Chi 23/06/2026 16:33 (GMT+7)

Theo Tổng LĐLĐVN, việc tiếp tục điều chỉnh sớm tiền lương tối thiểu vùng là quan trọng, cấp bách đối với người lao động và gia đình họ.

Chiều 23.6, tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Tiền lương quốc gia, bà Trần Thị Thanh Hà - Ủy viên Ban Thường vụ, Phó trưởng ban Quan hệ Lao động Tổng LĐLĐVN đã thay mặt Tổng LĐLĐVN đề xuất điều chỉnh lương tối thiểu vùng năm 2027 theo tháng với 2 phương án:

Phương án 1: Điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng từ 360 đến 520 nghìn đồng, bình quân tăng 9,8% so với năm 2026.

Phương án 2: Điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng từ 315 đến 450 nghìn đồng, bình quân tăng 8,5% so với năm 2026.

Về điều chỉnh lương tối thiểu theo giờ, Tổng LĐLĐVN đề nghị xác định mức lương tối thiểu giờ dựa trên quy đổi lương tối thiểu tháng và có hệ số điều chỉnh.

Để có căn cứ đề xuất tăng lương tối thiểu vùng theo 2 phương án trên, trong tháng 3, 4.2026, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã thực hiện khảo sát tại 7 tỉnh, thành phố với 196 doanh nghiệp, gần 2.000 người lao động trả lời phiếu cho thấy:

Về chi tiêu cơ bản: Có 54,3% người lao động cho biết tiền lương, thu nhập của họ vừa đủ chi tiêu cơ bản của gia đình (năm 2025 là 54,9%); 17,2% phải tằn tiện, chi tiêu kham khổ (năm 2025 là 26,3%); 20,6% không đủ sống, phải làm thêm giờ (năm 2025 là 7,9%); 7,9% cơ bản dư dật, có tích lũy (năm 2025 là 10,9%). Đánh giá chung, chi tiêu cơ bản của người lao động khảo sát trong năm 2026 có xu hướng khó khăn hơn so với năm 2025, đa số chỉ đủ trang trải cuộc sống, trong khi khả năng tích lũy còn thấp.

Bù đắp thiếu hụt chi tiêu: Nhiều trường hợp người lao động phải vay mượn để chi trả cho các nhu cầu phát sinh đột xuất, cụ thể, kết quả khảo sát cho thấy có 26,8% người lao động thường xuyên (hàng tháng) phải vay mượn tiền để ổn định cuộc sống (năm 2025 là 12,5%); 32,7% người lao động thỉnh thoảng (3-4 tháng/lần) phải vay mượn tiền (năm 2025 là 29,9%).

So với kết quả khảo sát năm 2025 cho thấy tần suất vay tiền của người lao động năm 2026 tăng lên rõ rệt so với năm 2025, phản ánh áp lực tài chính có xu hướng gia tăng. Xu hướng này phản ánh áp lực chi phí sinh hoạt tăng nhanh hơn thu nhập thực tế, làm giảm khả năng tích lũy và gia tăng rủi ro tài chính cá nhân.

Dinh dưỡng: Chỉ có 52,2% người lao động có đủ điều kiện ăn thịt, cá trong tất cả các bữa ăn chính (không kể bữa ăn ca tại doanh nghiệp) (năm 2025 là 55,5%). Như vậy, còn một bộ phận không nhỏ chưa có mức dinh dưỡng ổn định và đầy đủ, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, hiệu quả và năng suất lao động, đồng thời cũng làm giảm chất lượng cuộc sống của họ và gia đình. Đồng thời, có sự giảm tương đối rõ về điều kiện dinh dưỡng của người lao động so với năm 2025 (giảm 3,3 điểm %).

Chi phí giáo dục: Hơn 55,5% người lao động cho biết tiền lương chỉ đáp ứng một phần (trên 50%) nhu cầu chi cho giáo dục con cái (năm 2025 là 53,3%). Như vậy, với đa số người lao động chi phí giáo dục vẫn là một gánh nặng tài chính và họ phải phụ thuộc vào các nguồn hỗ trợ như vay mượn, tiết kiệm hoặc từ gia đình để đủ trang trải. Xu hướng này có sự thay đổi theo hướng không tích cực trong năm 2026 so với năm 2025.

Chi phí khám chữa bệnh: Có 39,8% người lao động cho biết thu nhập của họ chỉ đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh ở mức cơ bản (năm 2025 là 44,1%); 46,1% chỉ đủ tiền để mua một số loại thuốc cơ bản (năm 2025 là 38,0%); 2,9% hoàn toàn không đủ mua thuốc và khám chữa bệnh (năm 2025 là 5,6%). Đại đa số người lao động không đủ khả năng tài chính để chủ động chăm sóc sức khỏe toàn diện, đặc biệt khi gặp các vấn đề y tế nghiêm trọng hoặc cần điều trị dài hạn. Tình hình năm 2026 không có sự cải thiện so với năm 2025, làm gia tăng rủi ro sức khỏe trong dài hạn của người lao động.

Nhà ở: Có 32,1% người lao động phải thuê nhà trọ tư nhân (năm 2025 là 20,8%); 0,9% ở nhà tập thể của doanh nghiệp (năm 2025 là 3%). Diện tích nhà ở bình quân chỉ đạt 23.56m², trong khi số người cùng sinh sống trung bình là 3,08 người (năm 2025 lần lượt là 24,9m² cho 2,8 người ở, bình quân mỗi người có khoảng 8,89m²). Diện tích nhà ở bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 7,6 m²/người. Như vậy, số người lao động phải thuê nhà trọ tư nhân tăng cao hơn năm 2025, mức diện tích ở bình quân thấp hơn đáng kể so với tiêu chuẩn diện tích nhà ở bình quân của dân cư đô thị hiện nay và ngày càng thu hẹp, cho thấy thực trạng nhiều người lao động vẫn phải sống trong điều kiện nhà ở ngày càng chật hẹp.

Về lập gia đình: Có 55,3% tổng số người chưa lập gia đình cho biết tiền lương là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến quyết định lập gia đình của họ (năm 2025 là 72,6%). Người lao động cảm thấy mức thu nhập hiện tại không đủ để đảm bảo cuộc sống ổn định khi bắt đầu lập gia đình, đặc biệt là trong bối cảnh chi phí sinh hoạt và nuôi dưỡng con cái ngày càng tăng. Mức lương không chỉ ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu hàng ngày mà còn tác động đến việc mua nhà, tiết kiệm cho tương lai và đảm bảo các nhu cầu cơ bản cho một gia đình mới.

Về sinh con: Có 72,9% người lao động đã lập gia đình cho biết, tiền lương, thu nhập hiện tại ảnh hưởng đến quyết định sinh thêm con của họ (năm 2025 là 72,5%). Mức thu nhập ở mức đủ sống khiến các cặp vợ chồng lo lắng về khả năng tài chính để nuôi dạy con cái. Trong khi chi phí nuôi con, đặc biệt là chi phí giáo dục và chăm sóc sức khỏe ngày càng đắt đỏ nên họ đang trì hoãn sinh con để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho bản thân và gia đình.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục