Ra mắt Câu lạc bộ cán bộ công đoàn nòng cốt tại Khu công nghiệp Long Giang, tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Thanh Nhàn
Ra mắt Câu lạc bộ cán bộ công đoàn nòng cốt tại Khu công nghiệp Long Giang, tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Thanh Nhàn

Nhu cầu cấp thiết của Công đoàn các khu công nghiệp

Lục Tùng (báo lao động) 01/06/2026 11:27 (GMT+7)

Từ thực tế tại tỉnh Đồng Tháp - nơi có hơn 85.000 người lao động (NLĐ) làm việc tại 7 khu, cụm công nghiệp - nhiều ý kiến cho rằng dự thảo Điều lệ Công đoàn Việt Nam (khóa XIV) cần định danh rõ Công đoàn các khu công nghiệp (KCN) là cấp trên trực tiếp của công đoàn cơ sở (CĐCS) doanh nghiệp (DN) để thực hiện hiệu quả vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ NLĐ trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại.

Áp lực từ các khu công nghiệp rộng lớn

Sau sáp nhập, nhiều địa phương đang hình thành các không gian công nghiệp liên vùng với quy mô lớn chưa từng có. Tại Đồng Tháp, hành lang sản xuất kéo dài từ Tân Hương, Long Giang, Mỹ Tho đến Sa Đéc, Trần Quốc Toản, Sông Hậu… đang trở thành chuỗi công nghiệp liên hoàn với mật độ doanh nghiệp FDI ngày càng cao, có nhà máy sử dụng tới khoảng 20.000 NLĐ.

Theo ông Nguyễn Thanh Nhàn - Chủ tịch Công đoàn các KCN và Khu kinh tế Đồng Tháp - đơn vị hiện quản lý khoảng 85.000 đoàn viên, người lao động, mô hình tổ chức hiện nay sẽ bộc lộ nhiều bất cập nếu thiếu một cấp công đoàn chuyên trách theo không gian công nghiệp.

Trước hết là rào cản địa lý. Khoảng cách giữa các KCN sau sáp nhập kéo dài hàng trăm cây số, khiến việc kiểm tra, đối thoại hay xử lý tranh chấp lao động trở nên khó khăn nếu chỉ quản lý theo địa giới hành chính xã, phường.

Thách thức tiếp theo là thiếu hụt cán bộ chuyên trách. Trong khi số lượng DN và đoàn viên tăng nhanh, đặc biệt ở khu vực FDI, thì đội ngũ cán bộ am hiểu pháp luật lao động, thương lượng tập thể vẫn còn rất mỏng. Một cán bộ phải phụ trách nhiều KCN liên vùng sẽ khó phản ứng kịp thời khi phát sinh “điểm nóng” quan hệ lao động. Cùng với đó là sức ép quản trị trong quá trình chuyển đổi số. Việc hợp nhất dữ liệu của 85.000 đoàn viên, đồng bộ phần mềm quản lý giữa hai địa phương cũ đặt ra khối lượng công việc rất lớn. Nếu thiếu một đầu mối chuyên trách theo hệ sinh thái công nghiệp, việc giải quyết chế độ có nguy cơ chậm trễ, ảnh hưởng đến quyền lợi NLĐ.

Bốn trụ cột cho mô hình giai đoạn mới

Từ thực tế đó, nhiều ý kiến cho rằng nếu để công đoàn xã, phường trực tiếp quản lý CĐCS DN trong KCN sẽ bộc lộ bất cập cả về lý luận tổ chức lẫn thực tiễn vận hành. Công đoàn xã, phường vốn được tổ chức theo đặc thù hành chính - dân cư, khó có đủ kỹ năng chuyên sâu để đối thoại, thương lượng với các tập đoàn FDI lớn hoặc xử lý những cuộc ngừng việc tập thể phức tạp. Trong khi đó, mô hình Công đoàn KCN nhiều năm qua đã chứng minh hiệu quả thực tiễn rõ nét tại các trung tâm công nghiệp lớn. Đội ngũ cán bộ của mô hình này là lực lượng chuyên trách am hiểu pháp luật lao động, bám sát doanh nghiệp và có khả năng phản ứng nhanh khi phát sinh tranh chấp lao động.

Từ thực tiễn tại các địa phương công nghiệp, nhiều ý kiến đề xuất dự thảo Điều lệ Công đoàn Việt Nam (khóa XIV) cần khẳng định rõ Công đoàn KCN là cấp trên trực tiếp của CĐCS DN trong các khu, cụm công nghiệp và vùng sản xuất tập trung.

Để mô hình vận hành hiệu quả, cần được xây dựng trên bốn trụ cột:

Thứ nhất, phân cấp mạnh cho Công đoàn KCN trong thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc khu vực; chủ trì đối thoại với doanh nghiệp FDI và xử lý nhanh các tình huống tranh chấp lao động phát sinh.

Thứ hai, xây dựng hệ thống quản trị số tập trung với cơ sở dữ liệu đoàn viên thống nhất.

Thứ ba, hình thành các “cánh tay nối dài” tại cơ sở. Đối với các cụm doanh nghiệp ngoài KCN, cần cho phép thành lập mô hình Công đoàn khu vực, liên xã, liên phường...

Thứ tư, mọi cải cách tổ chức phải lấy người lao động làm trung tâm. Mục tiêu của tinh gọn bộ máy không chỉ là giảm đầu mối một cách cơ học, mà là nâng cao hiệu quả đại diện và chăm lo cho NLĐ.

Xem bản gốc tại đây

Cùng chuyên mục